Hotline

Đại cương về bào chế đông y

Bào chế học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về kỹ thuật điều chế các dạng thuốc nhằm mục đích phòng và chữa bệnh cho người
 
NỘI DUNG
 
I – KHÁI NIỆM VỀ BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC.
 
1.1. Định nghĩa
 
Theo y học hiện đại:
 
Bào chế học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về kỹ thuật điều chế các dạng thuốc nhằm mục đích phòng và chữa bệnh cho người
 
Môn bào chế cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản về kỹ thuật điều chế, kiểm tra, bảo quản các dạng thuốc.
 
Tuy nhiên, bào chế đông dược không chỉ bao gồm các dạng thuốc mà còn bao gồm cả các vị thuốc.
 
Bào chế đông dược là sử dụng chế hoá cơ học, chế hoá lý hoá hoặc sinh tổng hợp nhằm thay đổi hình dạng, lý tính, dược tính của các nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng vật để đáp ứng yêu cầu của quá trình sản xuất, bảo quản, kinh doanh, nâng cao hiệu quả phòng bệnh, điều trị bệnh và nâng cao thể trạng con người.
 
Bản chất của bào chế chủ yếu gồm chế hoá lý hoá và chế hoá cơ học.
 
Bản chất chế hoá cơ học là lực tác động như: Thái, bào, tán, rây... nhằm thay đổi hình dạng, kích thước, hình dáng, bề mặt tiếp xúc, hình khối v.v.. của thuốc
 
Bản chất chế hoá lý hoá là quá trình tác động của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, áp suất, ánh sáng kèm theo đó là các quá trình hoá học xảy ra (pH, thuỷ phân, bay hơi, thăng hoa, loại trừ, tổng hợp v.v..). Hoả chế, thuỷ chế, thuỷ hoả hợp chế, rán dầu, khúc, chế sương thuộc chế hoá lý hoá. Nó bao gồm các phương pháp bào chế như: Sao trực tiếp, sao có thêm chất trung gian truyền nhiệt, trích ( tẩm rượu, giấm, gừng, mật, muối, đồng tiện, nước vo gạo, hoàng thổ, nước đậu đen...), thuỷ phi (nghiền dược liệu trong nước), thuỷ bào, hơ, chích, đốt, lùi, nung, sắc, ngâm, hãm, hầm, nấu, đồ, chưng, ủ, làm trong v.v...
 
Tuy nhiên trong quá trình bào chế, hai cơ chế chế hoá lý hoá và chế hoá cơ học thường được sử dụng xen kẽ với nhau.
 
Nói chung bào chế, chế biến thuốc là công việc biến đổi tính chất thiên nhiên của dược liệu thành những vị thuốc có giá trị phòng bệnh và trị bệnh tốt nhất
 
Tóm lại: Chế biến thuốc cổ truyền là phương pháp tổng hợp của việc dùng nước - lửa, phụ liệu để làm cho vị thuốc từ trạng thái thiên nhiên trở thành trạng thái có thể sử dụng để phòng, trị bệnh và nâng cao thể trạng cho con người.
 
1.2. Nội dung nghiên cứu môn bào chế
 
Nội dung nghiên cứu của môn Bào chế Đông dược là tất cả những vấn đề đặt ra trong quá trình chế biến của các dược liệu thành các chế phẩm và dạng thuốc, sao cho các thành phẩm đó dễ bảo quản, kinh doanh, tiện sử dụng và phát huy tối đa phòng bệnh và chữa bệnh
 
Như vậy, nội dung nghiên cứu của môn bào chế là rất rộng và dựa trên các vấn đề cơ bản sau đây:
 
- Nâng cao kỹ thuật trên cơ sở cải tiến phương pháp bào chế cổ điển dựa trên những thành tựu của khoa học, công nghệ
 
- Nghiên cứu triển khai từ qui mô phòng thí nghiệm đến qui mô công nghiệp
 
- Nghiên cứu để tìm ra các tác dụng mới, các dạng thuốc mới, bảo quản thuốc tốt hơn.
 
- Nghiên cứu về kiểm nghiệm và bảo quản các dạng thuốc nhằm bảo đảm chất lượng thuốc.
 
1.3. Mối liên quan giữa môn bào chế với các môn khoa học khác
 
Bào chế học là môn khoa học ứng dụng, vì vậy đòi hỏi người ứng dụng phải có những kiến thức các môn khoa học cơ bản và các môn học chuyên môn nghiệp vụ khác. Có thể khẳng định rằng Bào chế học là tổng hợp những phát minh có giá trị của các ngành khoa học kỹ thuật khác. Mối liên quan giữa bào chế với các môn khoa học khác được thể hiện qua sơ đồ sau:
 
 II - MỤC ĐÍCH BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC.
 
2.1. Làm thuốc sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn dược phẩm
 
Các tạp chất vô cơ và hữu cơ lẫn lộn trong dược liệu cần phải loại bỏ bao gồm: nấm mốc, mối mọt, cát, sỏi, đất, xác thực vật chết v.v.....
 
Các loại không phải là dược liệu (tinh chế dược liệu) và những thành phần hoá học được đưa vào khi trồng trọt và bảo quản thuốc men; các vi sinh vật luôn phải loại trừ trong quá trình sơ chế, bào chế, chế biến dược liệu và thuốc.
 
Bỏ bớt các bộ phận không cần thiết của dược liệu để vị thuốc tinh khiết hơn,
 
lựa chọn được đúng bộ phận dùng: Mạch môn bỏ lõi; Ve sầu bỏ đầu, chân; Ngưu tất bỏ đầu, Kim anh bỏ hạt, Bỏ vỏ tang bạch bì, bỏ rễ phụ tử......
 
Hơn nữa, trong cùng một dược liệu có thể phải tách ra các bộ phận dùng khác nhau với tác dụng thậm chí trái ngược nhau như Ma hoàng (rễ và thân), Trắc bá
 
diệp (lá và hạt); Câu kỷ tử (vỏ rễ và quả)....
 
   Ngoài ra để dễ sử dụng, tránh được các mùi vị khó chịu, giúp cho việc chiết xuất (hãm, ngâm, sắc...) thuận lợi, nâng cao chất lượng dược liệu, chất lượng thuốc và hiệu quả điều trị.
 
2.2. Tạo vị thế hàng hoá đặc biệt cho thuốc
 
Thuốc là hàng hoá đặc biệt. Việc bào chế, chế biến thuốc giúp đạt những tiêu chuẩn qui định.
 
- Tạo ra vị thuốc có hình dáng, màu sắc đẹp, mùi vị thơm ngon hơn;
 
- Tạo tính hấp dẫn của vị thuốc, tính tiện lợi, tính hiệu quả trong việc sử dụng và lưu chuyển.
 
- Xây dựng vị thế cho thuốc cao hơn trong lòng ngưòi tiêu dùng, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, biến nó trở thành một hàng hoá đặc biệt trên thương trường, có tính cạnh tranh cao, được y học hiện đại công nhận.
 
Ví dụ: Nhân xâm đóng hộp, Tam thất, Linh chi tán, Lục vị ẩm, một số chế phẩm khác
 
Có thể phân chia vị thuốc đến kích thước, hình dáng hợp lý, tiện lợi, phù hợp với thói quen người tiêu dùng. Ví dụ: Thuốc dạng phiến, dạng khúc, dạng bột...
 
2.3. Tạo ra tác dụng chữa bệnh mới cho thuốc.
 
Bào chế, chế biến một số vị thuốc có thể thay đổi tác dụng tạo ra các tác dụng mới ngoài tác dụng vốn có của nó. Ngoài ra còn một số thuốc khi ở dạng nguyên liệu thì không có tác dụng trị bệnh, chỉ có tác dụng trị bệnh và đưa làm thuốc sau khi đã bào chế theo phương pháp riêng. Đó chính là biện pháp làm tăng hoặc giảm
 
tính âm, tính dương của thuốc.
 
Ví dụ:
 
- Bồ hoàng sống có tác dụng hoạt huyết, thán sao có tác dụng chỉ huyết.
 
- Táo nhân, Tâm sen để sống gây mất ngủ; sao đen có tác dụng an thần gây ngủ.
 
- Sài hồ có tác dụng (khuynh hướng) thăng đề, sau khi chế với dấm có tác dụng giáng.
 
- Sinh địa (sống) vị đắng, ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; sau khi chế biến thành Thục địa. Thục địa này có vị ngọt, tính ôn, có tác dụng bổ âm, bổ huyết (thay đổi cả khí và vị).
 
- Tóc chỉ làm thuốc cầm máu sau khi đốt tồn tính.
 
- Mẫu lệ, Cửu khổng, Trân châu mẫu nung hoặc tôi trong dấm có tác dụng cố tinh sáp niệu.
 
- Xuyên sơn giáp sao cách cát hoặc nướng đến khi chín phồng đều được dùng để hoạt huyết, giải độc, tiêu mủ.
 
- Thạch cao sống có tác dụng sinh tân chỉ khát, thanh nhiệt tả hoả nhưng sau khi nung chủ yếu chỉ được dùng ngoài.
 
2.4. Tăng hiệu lực chữa bệnh của thuốc
 
Đây là mục đích trọng tâm của bào chế.
 
Theo lý luận chung, các chứng bệnh sinh ra đều xuất phát từ yếu tố nội thương hoặc ngoại thương hoặc bất nội ngoại thương có liên quan đến các tạng phủ, vinh vệ, khí huyết, đường kinh lạc, vùng bị bệnh..... không vượt quá qui nạp của âm dương ngũ hành. Nhiều phương pháp chế biến thuốc khác nhau, phụ liệu khác nhau để tăng tác dụng (hiệu lực) của thuốc và tạo cho thuốc có màu sắc, mùi vị tương ứng với hành trong thuyết ngũ hành. Đây là giải pháp nhằm tăng tính quy kinh của vị thuốc.
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở tỳ, vị thì chế biến để vị thuốc có màu vàng, vị ngọt, mùi thơm. Để tăng tác dụng kiện tỳ: Chế biến thuốc sao vàng, sao với Cám gạo, sao với Hoàng thổ, Bích thổ, nước vo gạo, chích Mật ong, chích đường, chích nước Cam thảo...Ví như tăng tác dụng kiện tỳ của Bạch truật thì chế với cám, hoàng thổ hoặc sao vàng. Hoài sơn sao vàng; Hoàng kỳ trích mật....
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở thận, bàng quang thì chế biến để vị thuốc có màu đen, vị mặn. Qui kinh Thận: Chế biến thuốc với nước Muối, nước Đậu đen. Ví dụ : Tăng tác dụng bổ thận của Hà thủ ô thì chế biến với nước đậu đen, Đỗ trọng và Cẩu tích với muối.; Thục địa chưng; Hoa hoa thán và Trắc bách diệp thán sao để cầm máu với ý nghĩa “đen chỉ huyết”....
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở phế thì chế để vị thuốc có vị cay, màu trắng. Qui kinh Phế: Chế biến thuốc với nước Gừng, nước Phèn chua, nước Cam thảo... Ví dụ: Bán hạ, đẳng sâm chế dịch nước gừng. Rễ dâu bóc lấy vỏ, bỏ vỏ ngoài tạo Tang bạch bì...
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở tâm thì chế biến để vị thuôc có vị đắng, màu đỏ. Qui kinh Tâm: Chế biến thuốc với nước Đồng tiện.
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở can, đởm thì chế biến để vị thuốc có vị chua, màu xanh. Qui kinh Can: Chế biến thuốc với Dấm. Ví dụ Hương phụ, Sài hồ, Huyền hồ chế dấm....
 
Trên đây chính là phương pháp tăng tính qui kinh của vị thuốc, làm cho tác dụng và chỉ định chữa bệnh của vị thuốc được mở rộng.
 
- Để dẫn thuốc phía trên để thăng đề, cần chế biến thuốc với rượu (như chế Xuyên khung, Đại hoàng, Thăng ma...)
 
   Một số chú ý quan trọng:
 
a/ Việc sử dụng các phụ liệu để chế biến thuốc phải phù hợp với tính qui kinh bản thân vốn có của thuốc, không bừa bãi làm thay đổi tính chất qui kinh. Ví dụ: Bạch truật qui vào kinh tỳ, vị. Chế biến để tăng tác dụng kiện tỳ vị, không thể chế biến để bổ can thận.
 
b/ Việc sử dụng các phụ liệu để chế biến thuốc phải phù hợp với tính qui kinh bản thân vốn có của thuốc, không bừa bãi làm thay đổi tính chất qui kinh.
 
Ví dụ: Bạch truật qui vào kinh tỳ, vị. Chế biến để tăng tác dụng kiện tỳ vị,
 
không thể chế biến để bổ can thận.
 
c/ Người ta thường không dùng các phụ liệu làm ảnh hưởng tới tác dụng của thuốc.
 
Ví dụ: Thuốc bổ thận dương tẩm Cam thảo sẽ hạn chế các thuốc đó qui kinh thận; Ngưu tất là thuốc cố hạ, đi xuống phía dưới cơ thể nếu tẩm với nước Cam thảo là thuốc cố trung sẽ làm cho Ngưu tất không phát huy tác dụng ở hạ tiêu.
 
d/ Có thể làm giao tính qui kinh của vị thuốc.
 
Ví dụ: Để giúp cho tâm thận giao nhau thì chế Hoàng liên với nước Nhục quế hoặc ngược lại và nhằm mục đích dẫn dương vào âm, để tâm thận giao nhau giúp vị thuốc có thêm tác dụng an thần gây ngủ.
 
e/ Để tăng thêm “vị” cho các thuốc về khí, về dương như thuốc bổ khí kiện tỳ, thuốc bổ thận dương ... thường phải chế biến về vị.
 
Ví dụ: - Thuốc bổ thận dương thường tẩm thêm với muối ăn có “vị mặn” để chúng có đủ cả khí lẫn vị cho thận làm cho tăng tác tác dụng của chúng đối với thận.
 
- Các thuốc bổ khí kiện tỳ cần bổ sung thêm vị nên chúng thường được chích Mật ong, chích đường, sữa để có thêm vị ngọt.
 
Như vậy, khí và vị thường hỗ trợ nhau để tăng sức cho vị thuốc
 
2. 5. Giảm độc tính và tạo đường dùng mới cho thuốc
 
Hầu hết các dược liệu độc phải bào chế để giảm độc trước khi dùng cho người bệnh.
 
Thuốc độc trong y học cổ truyền được chia làm hai loại: Loại có tác dụng mạnh gây nguy hiểm đến tính mạng người dùng (tương đương như độc bảng A và các thuốc gây nghiện) như Phụ tử, Hoàng nàn, Mã tiền... và loại khác gây kích ứng ngứa, nôn... như Bán hạ, Nam tinh, Ráy...
 
Giảm độ độc tức là giảm mức độ độc gây nguy hiểm cho tính mạng, hoặc gây kích ứng gây ngứa, buồn nôn.v.v... cho người sử dụng.
 
Muốn đạt điều đó, người ta phải sử dụng các phương pháp chế biến như:
 
2.5.1. Hoả chế
 
Dùng nhiệt độ để giảm độc tính của vị thuốc
 
Ví dụ: Sử dụng nhiệt độ cao từ 200˚C - 250˚C để phân huỷ chất độc trong dược liệu như đối với Mã tiền..., sấy ở nhiệt độ trên 190˚C Bán hạ sẽ mất vị ngứa.
 
Chất độc bị phân huỷ theo 3 cơ chế sau:
 
- Nhiệt phân: Do độ cao phân huỷ một số thành phần hoá học cấu tạo nên vị thuốc; các chất khác nhau sẽ bị phân huỷ ở mức độ khác nhau; men sinh học bị giảm hoặc mất hoặt tính khi nhiệt độ tăng cao tới 100°C.
 
- Bay hơi: Một số chất dễ bay hơi như tinh dầu, một số chất có cấu tạo ester
 
- Thăng hoa: Antranoid, một số chất trong nhóm alcaloid (cafein...)
 
2.5.2. Thuỷ chế
 
Dùng nước hoặc phụ liệu ngâm, tẩm.... vị thuốc sẽ hạn chế được tác dụng bất lợi theo cơ chế loại trừ hoặc thuỷ phân.
 
- Loại trừ: Sử dụng nước hoặc dịch phụ liệu hoà tan hoạt chất độc và một số thành phần khác.
 
Độ tan của thành phần hoá học phụ thuộc vào độ pH của dịch ngâm. Alcaloid dạng muối tan trong dịch có pH acid, coumarin tan tốt trong dịch có pH kiềm.
 
Ví dụ: Dịch ngâm nước vo gạo làm giảm hàm lượng alcaloid độc trong Hoàng nàn, giảm ngứa của Ráy, giảm tanin và antranoid trong Hà thủ ô đỏ.
 
- Thuỷ phân: Nhiều thành phần có cấu trúc dễ bị thuỷ phân bởi nước (khi ngâm hoặc ủ) thành chất khác.
 
Ví dụ: Thông qua các phương pháp bào chế, chất Aconitin trong Ô đầu (độc bảng A) bị thuỷ phân thành Benzoylaconin có độ độc giảm 400 - 500 lần so với Aconin, riêng Aconin có hàm lượng giảm 1000 - 2000 lần.
 
Sau khi bào chế sẽ tạo thêm hai vị thuốc mới là Phụ tử gồm Bạch phụ tử và Hắc phụ tử (độc bảng B).
 
 
 
2.5.3. Thuỷ hoả hợp chế:
 
Ở nhiệt độ cao có dịch phụ liệu (chưng, cất, nấu.... để giảm nhanh độc tính) dễ chuyển hoá thành phần chất độc trong dược liệu như đối với Phụ tử, Bán hạ.
 
Các phụ liệu được sử dụng bào chế với các vị thuốc độc để giảm độc như Cam thảo, Đậu đen, Đậu xanh, Magie clorid ( MgCl2), nước đảm ba...;
 
Các phụ liệu dùng bào chế để giảm vị ngứa trong thuốc như nước vôi, nước Tro bếp, Gừng tươi , nước vo gạo, nước phèn chua..;
 
Các phụ liệu dùng bào chế để làm giảm tác dụng gây nê trệ, đầy bụng như Sa nhân, Sinh khương, rượu;
 
Các phụ liệu dùng bào chế để làm giảm tác dụng gây táo bón như nước vo gạo, Mật ong.
 
Tuy nhiên, chế biến không hợp lý có thể làm giảm hoạt chất dẫn tới làm giảm chất lượng vị thuốc và giảm hiệu lực chữa bệnh của thuốc.
 
2. 6. Giảm tác dụng không mong muốn của thuốc.
 
Một số vị thuốc có thành phần hoá học gây tác dụng không có lợi cho người bệnh như antranoid, saponin triterpenic, chất nhầy ... Các chất này thường gây ỉa chảy ở người đang rối loạn tiêu hoá, một số tinh dầu gây kích ứng dạ dày. Thậm chí một số chất gây tác dụng ngược lại với tác dụng của hoạt chất. Việc chế biến có thể làm giảm hoặc mất tác dụng này là cần thiết để tăng hiệu lực trị bệnh, tăng độ an toàn cho người bệnh.
 
Ví dụ: Quyết minh tử dùng sống sẽ gây ỉa chảy, liều cao có thể tả hạ, sau khi sao vàng thì thuốc có tác dụng nhuận hạ và giáng áp, sao cháy có tác dụng an thần. Đó là do quá trình sao thuốc, một số hoạt chất mang tính dương, dạng ô xy hoá, tồn tạo tự do. Dạng này, các hoạt chất có tác dụng kích thích thành ruột. Sau khi sao, chúng chuyển sang dạng khử, dạng liên kết và mang tính âm nên giảm hoặc mất tác dụng kích thích thành ruột.
 
Mỗi vị thuốc thường có nhiều tác dụng khác nhau, trong bệnh cảnh của người
 
bệnh này thì nó là tốt, nhưng trong bệnh cảnh của bệnh nhân khác trở thành tác dụng bất lợi, chế biến có thể làm giảm tác dụng bất lợi này.
 
Ví dụ: Thục địa bổ âm, bổ huyết sinh tân dịch. Khi dùng cho người bệnh tâm, tỳ hư thì sẽ gây đầy chướng bụng, rối loạn tiêu hoá. Nếu sao khô thì sẽ hạn chế tác dụng này (giảm bớt tuỷ trong thuốc để tránh hiện tượng tương thừa).
 
Bạch truật có tác dụng kiện tỳ táo thấp. Khi dùng cho người âm hư nội nhiệt, nếu chế với nước vo gạo sẽ giảm tính " ráo" của thuốc.
 
2.7. Thay đổi tính (khí) vị, từ đó thay đổi tác dụng của thuốc
 
Tính vị là hai đặc trưng của vị thuốc và biểu hiện xu hướng và cường độ tác dụng của thuốc. Các yếu tố có thể gây ra thay đổi khí vị của thuốc như nhiệt độ (sao, nướng...), phụ liệu (tính chất của phụ liệu...)
 
- Tăng tính ấm, giảm tính hàn bằng phương pháp hoả chế, thuỷ hoả hợp chế hoặc dùng các phụ liệu tính ôn như sa nhân, gừng, rượu...
 
Ví dụ: Sinh địa vị đắng, hơi hàn, tác dụng thanh nhiệt lương huyết. Thục địa (chế từ Sinh địa) vị ngọt, tính hơi ôn, tác dụng bổ âm, bổ huyết.
 
- Giảm tính đại nhiệt, đại hàn có thể chế bằng cách ngâm trong dịch nước vo gạo, nước cam thảo hoặc sao đen...
 
2. 8. Ổn định tác dụng của thuốc
 
Phương pháp sao, sấy khô (nhiệt độ khoảng 50 - 70°C) làm giảm độ ẩm tránh phân huỷ thành phần hoạt chất của thuốc và tiêu diệt được men, nấm mốc gây hại cho thuốc.
 
Ví dụ: Hoa hoè sao qua, có thể hạn chế sự phân huỷ Rutin trong hoa, duy trì tốt tác dụng lương huyết, hạ huyết áp.
 
Tương tự đối với vị thuốc Hoàng cầm
 
Ngoài ra, để ổn định các dược liệu có chứa Glycozid (tránh Enzym tác động xấu), người ta thường áp dụng phương pháp này.
 
2. 9. Giảm tính bền vững cơ học, tăng khả năng giải phóng hoạt chất
 
Điều đó có nghĩa là tăng hiệu lực của thuốc, thuận lợi cho việc sử dụng.
 
Ví dụ: Cửu khổng, mẫu lệ nung ở nhiệt độ cao (vô cơ hoá) để tán bột.
 
Nhiệt độ có thể làm giảm độ bền cơ học.
 
2.10. Bảo quản thuốc được tốt hơn
 
Do qua chế biến, thuốc có thể tránh được mối mọt, men mốc. Cụ thể:
 
- Làm khô hoặc giảm độ ẩm của vị thuốc.
 
- Làm thay đổi tính chất của một số thành phần hoá học dễ gây nấm mốc như pectin, chấy nhầy, tinh bột, chất đường, chất béo... và diệt nấm mốc
 
- Diệt men (làm mất hoạt tính của men ở nhiệt độ cao) có trong thuốc để ổn định thuốc. Ví dụ: Nhiệt độ cao làm mất hoạt tính của men glycosidase, bảo vệ thành phần glycosid
 
- Tạo thành lớp bảo vệ (Hoàng kỳ chích mật ta được ra lớp màng caramen hoá ở bên ngoài tạo thành lớp bảo vệ ngăn hạn chế vi khuẩn, ký sinh, côn trùng xâm nhập).
 
 
 
III. MỘT SỐ YÊU CẦU CỦA BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC
 
3.1. .Các yêu cầu cơ bản của bào chế, chế biến đông dược
 
* Theo Trần Gia Mô (1562) đời Minh (Trung Quốc) có nói:" Bào chế cốt ở chỗ vừa chừng, non quá thì khó kiến hiệu, già quá thì mất khí vị".
 
Do đó, người bào chế phải thực hiện bào chế đúng kỹ thuật, thích hợp.
 
* Phải đảm bảo hình thức mẫu mã, chất lượng (phẩm chất) sản phẩm.
 
* Người bào chế phải nắm vững về tính dược của thuốc, tương tác thuốc, tương tác giữa thuốc và phụ liệu, yêu cầu trạng thái phẩm chất của từng sản phẩm (vị thuốc, bài thuốc) đáp ứng yêu cầu điều trị.
 
3.2. Các trường hợp tương tác của dược liệu cần nhớ trong quá trình bào chế cũng như sử dụng thuốc
 
   3.2.1. Đơn hành
 
Dùng riêng một vị thuốc cũng có thể phát huy được hiệu quả chữa bệnh của nó. Ví dụ bài Độc sâm thang
 
3.2..2. Tương tu (tác dụng hiệp đồng)
 
Nhiều vị thuốc có tính vị tương tự nhau, khi phối hợp thì tác dụng điều trị tốt hơn.
 
- Kim ngân hoa phối hợp với Liên kiều tăng tác dụng sức thanh nhiệt, giải độc dùng tốt hơn trong các bệnh mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng...
 
- Sinh địa phối hợp với Huyền sâm sẽ làm tăng tác dụng lương huyết, chỉ huyết, tư âm.
 
- Hoàng liên dùng cùng Liên tâm tăng tác dụng thanh tâm hoả.
 
- Đại hoàng dùng cùng Mang tiêu tăng tác dụng tả hạ lên nhiều lần so với dùng riêng từng vị.
 
- Hoàng bá dùng cùng Tri mẫu thì tác dụng tư thận giáng hoả được chắc chắn.
 
- Hoàng kỳ dùng cùng Bạch linh làm tác dụng bổ ích tỳ khí được tăng cường.
 
- Đại hoàng dùng cùng Hoàng cầm làm tăng tác dụng tiết nhiệt.
 
- Bạch truật phối hợp với hoàng cầm để tăng hiệu lực an thai
 
- Thương truật phối hợp với Hoàng bá để tăng tác dụng thanh nhiệt táo thấp.
 
- Hoàng kỳ phối hợp với phòng phong tăng công hiệu củng cố vệ khí
 
- Bán hạ giúp sài hồ dẫn thuốc vào kinh thiếu dương
 
- Hương phụ giúp đào nhân để tán ứ huyết giảm đau....
 
3.2.3. Tương uý
 
Vị thuốc này ức chế độc tính của vị thuốc kia
 
Ví dụ: Bán hạ uý Sinh khương.
 
Bản thân Bán hạ có độc, uống gây ngứa cổ muốn kêu to, nôn lợm.
 
Bán hạ dùng với Sinh khương thì Sinh khương làm mất tính kích thích họng của Bán hạ, đồng thời làm hết tác dụng phụ của Bán hạ như buồn nôn, lợm giọng, trừ đờm. Chính vì vậy, trong chế biến người ta dùng Sinh khương để chế Bán hạ (Khương bán hạ).
 
- Nhân sâm uý Ngũ linh chi;
 
Tuy nhiên, dùng Đảng sâm phối ngũ với Ngũ linh chi sẽ có tác dụng ích khí kiện tỳ, hoá ứ hành trệ để chữa viêm teo dạ dày mạn kèm sa niêm mạc dạ dày (thể tỳ hư huyết ứ) đều thu kết quả cao.
 
- Hoàng liên (vị hàn) phối hợp với Nhục quế (vị nhiệt), tuy đối lập nhau nhưng lại có tác dụng giao lưu giữa tâm và thận.
 
- Đinh hương uý Uất kim;
 
Mang tiêu (Nha tiêu, Huyền minh phấn) uý Tam lăng, Lưu huỳnh
 
Thuỷ ngân uý Thạch tín, Ba đậu ;  
 
Ô đầu (thảo ô) uý Tê giác;
 
Lang lộc uý Mật đà tăng;    
 
Quan quế uý Thạch chi
 
Tuy nhiên có một số tương uý vẫn dùng được như Phòng phong và Hoàng kỳ nhằm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể.
 
Tư­ơng uý hay đư­ợc áp dụng trong việc bào chế thuốc độc và ngay trong điều trị bệnh.
 
3.2.4. Tương ác
 
Là vị thuốc này kiềm chế tính năng, tác dụng của vị thuốc kia.
 
Ví dụ: Hoàng cầm vị đắng tính hàn tương ác Sinh khương vị cay tính ấm
 
Khi dùng chung tính hàn của Hoàng cầm sẽ kiềm chế tính ấm của Sinh khương....
 
Sa sâm ố Phòng phong;      
 
Sơn thù ố Cát cánh
 
3.2.5. Tương sử
 
Là tổ hợp tác dụng hiệp đồng của hai vị thuốc khác nhau về tính vị. Ví dụ: Hoàng
 
Liên vị đắng tính hàn tương sử Ngô thù vị cay tính ấm chỉ nôn; Mộc hương vị cay tính ấm tương sử với hoàng liên vị đắng tính lạnh
 
- Liên kiều vị đắng tính hàn t­ương sử (dùng chung) Ngô thù du vị cay tính ấm để chỉ nôn (cầm nôn) tăng lên. Đó chính là do chúng có khả năng hạn chế tiết dịch nước bọt và dịch vị. Trên cơ sở đó có thể chữa chứng ợ chua của bệnh đau dạ dày.
 
- Hoàng kỳ dùng cùng Bạch linh làm tác dụng bổ ích tỳ khí và lợi tiểu được tăng cường.
 
- Đại hoàng dùng cùng Hoàng cầm làm tăng tác dụng tiết nhiệt.
 
- Xuyên khung, thương truật giúp Ô dược thuận
 
3.2.6. Tương sát
 
Là sự triệt tiêu tính độc của nhau. Chủ yếu áp dụng để giải độc.
 
   Phòng phong trừ độc của Thạch tín,
 
   Đậu xanh trừ độc của Ba đậu.
 
   Ngũ vị tử sát Ô đầu; dùng chung tạo ra chất độc mới
 
   Bạch chỉ sát Hùng hoàng
 
   Hoạt thạch sát Hùng hoàng....
 
   Vì vậy, vận dụng tương sát để giải độc khi bị ngộ độc Asen hoặc Ba đậu...
 
3.2.7. Tương phản
 
Là tổ hợp tương tác giữa hai vị thuốc gây ra phản ứng không tốt hoặc gây thêm độc tính cho cơ thể.
 
Hai vị thuốc khi dùng riêng thì lành, dùng chung thì phản nhau mãnh liệt.
 
Các cặp vị thuốc tương phản cần ghi nhớ.
 
Ba đậu phản Khiên ngưu (Hắc sửu, Bạch sửu);
 
Cam thảo phản Cam toại; Đại kích, Nguyên hoa, Hải tảo.
 
Hải tảo, Bạch cập phản Bán hạ;
 
Bối mẫu, Qua lâu nhân, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm phản Ô đầu;
 
Đại kích phản Nguyên hoa.
 
Các loại sâm (Nhân sâm, Sa sâm, Đan sâm, Huyền sâm, Khổ sâm...) và các vị thuốc Tế tân, Bạch thược đều phản khắc vị Lê lô (Veratrum nigrum).
 
Về nguyên tắc các vị thuốc tương phản nhau thì không thể dùng chung với nhau được.  
 
Điều đó cần hết sức chú ý và nắm vững.
 
Ví dụ: Dùng Tế tân với Lê nô sẽ gây mù mắt cho ngư­ời bệnh, hoặc Nguyên hoa là vị thuốc có khả năng lợi thuỷ nhưng khi dùng với Cam thảo không những không có tác dụng lợi thuỷ mà lại làm tăng tính độc của Nguyên hoa.
 
Ngũ vị tử khi dùng chung với Ô đầu sẽ tạo ra chất độc mới có hại.
 
Tuy nhiên, trong thực tế một số người có kinh nghiệm đã lợi dụng tính chất tương phản của một số vị thuốc để chữa bệnh.
 
Ví dụ: Cam thảo phản Cam toại song người ta đã dùng chính hai vị thuốc này (trong bài Cam toại tán) với mục đích trục đờm ẩm.
 
Tóm lại, khi tiến hành phối hợp các vị thuốc trong một đơn thuốc cần lưu ý tới bảy tình huống trên. Cần khai thác mặt tốt của chúng vào việc chữa bệnh và chế biến thuốc; đồng thời phải hết sức tránh các trường hợp tương phản, tương ác.... để tránh các hậu quả có thể xảy ra khi dùng thuốc cũng như tác dụng kém của thuốc
 
Trong thực tế nên phối ngũ thuốc theo tương tu, tương sử, nếu có vị độc phải khử độc dùng phép tương ố (tương ác), tương sát, tương uý (huý).
 
DS. Nguyễn Thị Hải
TS. Nguyễn Văn Quân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Trung Hoà, Đông y toàn tập, Nhà xuất bản Thuận Hoá năm 2000
2. Nguyễn Xuân Sinh, Phùng Hoà Bình, Dược học cổ truyền – Giáo trình Đại học Dược Hà Nội, NXB Y học 1999 và 2006
3. Đỗ Tất Lợi, Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – NXB Y học năm 2000Bào chế học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về kỹ thuật điều chế các dạng thuốc nhằm mục đích phòng và chữa bệnh cho người
 
 
NỘI DUNG
 
I – KHÁI NIỆM VỀ BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC.
 
1.1. Định nghĩa
 
Theo y học hiện đại:
 
Bào chế học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về kỹ thuật điều chế các dạng thuốc nhằm mục đích phòng và chữa bệnh cho người
 
Môn bào chế cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản về kỹ thuật điều chế, kiểm tra, bảo quản các dạng thuốc.
 
Tuy nhiên, bào chế đông dược không chỉ bao gồm các dạng thuốc mà còn bao gồm cả các vị thuốc.
 
Bào chế đông dược là sử dụng chế hoá cơ học, chế hoá lý hoá hoặc sinh tổng hợp nhằm thay đổi hình dạng, lý tính, dược tính của các nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng vật để đáp ứng yêu cầu của quá trình sản xuất, bảo quản, kinh doanh, nâng cao hiệu quả phòng bệnh, điều trị bệnh và nâng cao thể trạng con người.
 
Bản chất của bào chế chủ yếu gồm chế hoá lý hoá và chế hoá cơ học.
 
Bản chất chế hoá cơ học là lực tác động như: Thái, bào, tán, rây... nhằm thay đổi hình dạng, kích thước, hình dáng, bề mặt tiếp xúc, hình khối v.v.. của thuốc
 
Bản chất chế hoá lý hoá là quá trình tác động của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, áp suất, ánh sáng kèm theo đó là các quá trình hoá học xảy ra (pH, thuỷ phân, bay hơi, thăng hoa, loại trừ, tổng hợp v.v..). Hoả chế, thuỷ chế, thuỷ hoả hợp chế, rán dầu, khúc, chế sương thuộc chế hoá lý hoá. Nó bao gồm các phương pháp bào chế như: Sao trực tiếp, sao có thêm chất trung gian truyền nhiệt, trích ( tẩm rượu, giấm, gừng, mật, muối, đồng tiện, nước vo gạo, hoàng thổ, nước đậu đen...), thuỷ phi (nghiền dược liệu trong nước), thuỷ bào, hơ, chích, đốt, lùi, nung, sắc, ngâm, hãm, hầm, nấu, đồ, chưng, ủ, làm trong v.v...
 
Tuy nhiên trong quá trình bào chế, hai cơ chế chế hoá lý hoá và chế hoá cơ học thường được sử dụng xen kẽ với nhau.
 
Nói chung bào chế, chế biến thuốc là công việc biến đổi tính chất thiên nhiên của dược liệu thành những vị thuốc có giá trị phòng bệnh và trị bệnh tốt nhất
 
Tóm lại: Chế biến thuốc cổ truyền là phương pháp tổng hợp của việc dùng nước - lửa, phụ liệu để làm cho vị thuốc từ trạng thái thiên nhiên trở thành trạng thái có thể sử dụng để phòng, trị bệnh và nâng cao thể trạng cho con người.
 
1.2. Nội dung nghiên cứu môn bào chế
 
Nội dung nghiên cứu của môn Bào chế Đông dược là tất cả những vấn đề đặt ra trong quá trình chế biến của các dược liệu thành các chế phẩm và dạng thuốc, sao cho các thành phẩm đó dễ bảo quản, kinh doanh, tiện sử dụng và phát huy tối đa phòng bệnh và chữa bệnh
 
Như vậy, nội dung nghiên cứu của môn bào chế là rất rộng và dựa trên các vấn đề cơ bản sau đây:
 
- Nâng cao kỹ thuật trên cơ sở cải tiến phương pháp bào chế cổ điển dựa trên những thành tựu của khoa học, công nghệ
 
- Nghiên cứu triển khai từ qui mô phòng thí nghiệm đến qui mô công nghiệp
 
- Nghiên cứu để tìm ra các tác dụng mới, các dạng thuốc mới, bảo quản thuốc tốt hơn.
 
- Nghiên cứu về kiểm nghiệm và bảo quản các dạng thuốc nhằm bảo đảm chất lượng thuốc.
 
1.3. Mối liên quan giữa môn bào chế với các môn khoa học khác
 
Bào chế học là môn khoa học ứng dụng, vì vậy đòi hỏi người ứng dụng phải có những kiến thức các môn khoa học cơ bản và các môn học chuyên môn nghiệp vụ khác. Có thể khẳng định rằng Bào chế học là tổng hợp những phát minh có giá trị của các ngành khoa học kỹ thuật khác. Mối liên quan giữa bào chế với các môn khoa học khác được thể hiện qua sơ đồ sau:
 
 II - MỤC ĐÍCH BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC.
 
2.1. Làm thuốc sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn dược phẩm
 
Các tạp chất vô cơ và hữu cơ lẫn lộn trong dược liệu cần phải loại bỏ bao gồm: nấm mốc, mối mọt, cát, sỏi, đất, xác thực vật chết v.v.....
 
Các loại không phải là dược liệu (tinh chế dược liệu) và những thành phần hoá học được đưa vào khi trồng trọt và bảo quản thuốc men; các vi sinh vật luôn phải loại trừ trong quá trình sơ chế, bào chế, chế biến dược liệu và thuốc.
 
Bỏ bớt các bộ phận không cần thiết của dược liệu để vị thuốc tinh khiết hơn,
 
lựa chọn được đúng bộ phận dùng: Mạch môn bỏ lõi; Ve sầu bỏ đầu, chân; Ngưu tất bỏ đầu, Kim anh bỏ hạt, Bỏ vỏ tang bạch bì, bỏ rễ phụ tử......
 
Hơn nữa, trong cùng một dược liệu có thể phải tách ra các bộ phận dùng khác nhau với tác dụng thậm chí trái ngược nhau như Ma hoàng (rễ và thân), Trắc bá
 
diệp (lá và hạt); Câu kỷ tử (vỏ rễ và quả)....
 
   Ngoài ra để dễ sử dụng, tránh được các mùi vị khó chịu, giúp cho việc chiết xuất (hãm, ngâm, sắc...) thuận lợi, nâng cao chất lượng dược liệu, chất lượng thuốc và hiệu quả điều trị.
 
2.2. Tạo vị thế hàng hoá đặc biệt cho thuốc
 
Thuốc là hàng hoá đặc biệt. Việc bào chế, chế biến thuốc giúp đạt những tiêu chuẩn qui định.
 
- Tạo ra vị thuốc có hình dáng, màu sắc đẹp, mùi vị thơm ngon hơn;
 
- Tạo tính hấp dẫn của vị thuốc, tính tiện lợi, tính hiệu quả trong việc sử dụng và lưu chuyển.
 
- Xây dựng vị thế cho thuốc cao hơn trong lòng ngưòi tiêu dùng, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, biến nó trở thành một hàng hoá đặc biệt trên thương trường, có tính cạnh tranh cao, được y học hiện đại công nhận.
 
Ví dụ: Nhân xâm đóng hộp, Tam thất, Linh chi tán, Lục vị ẩm, một số chế phẩm khác
 
Có thể phân chia vị thuốc đến kích thước, hình dáng hợp lý, tiện lợi, phù hợp với thói quen người tiêu dùng. Ví dụ: Thuốc dạng phiến, dạng khúc, dạng bột...
 
2.3. Tạo ra tác dụng chữa bệnh mới cho thuốc.
 
Bào chế, chế biến một số vị thuốc có thể thay đổi tác dụng tạo ra các tác dụng mới ngoài tác dụng vốn có của nó. Ngoài ra còn một số thuốc khi ở dạng nguyên liệu thì không có tác dụng trị bệnh, chỉ có tác dụng trị bệnh và đưa làm thuốc sau khi đã bào chế theo phương pháp riêng. Đó chính là biện pháp làm tăng hoặc giảm
 
tính âm, tính dương của thuốc.
 
Ví dụ:
 
- Bồ hoàng sống có tác dụng hoạt huyết, thán sao có tác dụng chỉ huyết.
 
- Táo nhân, Tâm sen để sống gây mất ngủ; sao đen có tác dụng an thần gây ngủ.
 
- Sài hồ có tác dụng (khuynh hướng) thăng đề, sau khi chế với dấm có tác dụng giáng.
 
- Sinh địa (sống) vị đắng, ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; sau khi chế biến thành Thục địa. Thục địa này có vị ngọt, tính ôn, có tác dụng bổ âm, bổ huyết (thay đổi cả khí và vị).
 
- Tóc chỉ làm thuốc cầm máu sau khi đốt tồn tính.
 
- Mẫu lệ, Cửu khổng, Trân châu mẫu nung hoặc tôi trong dấm có tác dụng cố tinh sáp niệu.
 
- Xuyên sơn giáp sao cách cát hoặc nướng đến khi chín phồng đều được dùng để hoạt huyết, giải độc, tiêu mủ.
 
- Thạch cao sống có tác dụng sinh tân chỉ khát, thanh nhiệt tả hoả nhưng sau khi nung chủ yếu chỉ được dùng ngoài.
 
2.4. Tăng hiệu lực chữa bệnh của thuốc
 
Đây là mục đích trọng tâm của bào chế.
 
Theo lý luận chung, các chứng bệnh sinh ra đều xuất phát từ yếu tố nội thương hoặc ngoại thương hoặc bất nội ngoại thương có liên quan đến các tạng phủ, vinh vệ, khí huyết, đường kinh lạc, vùng bị bệnh..... không vượt quá qui nạp của âm dương ngũ hành. Nhiều phương pháp chế biến thuốc khác nhau, phụ liệu khác nhau để tăng tác dụng (hiệu lực) của thuốc và tạo cho thuốc có màu sắc, mùi vị tương ứng với hành trong thuyết ngũ hành. Đây là giải pháp nhằm tăng tính quy kinh của vị thuốc.
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở tỳ, vị thì chế biến để vị thuốc có màu vàng, vị ngọt, mùi thơm. Để tăng tác dụng kiện tỳ: Chế biến thuốc sao vàng, sao với Cám gạo, sao với Hoàng thổ, Bích thổ, nước vo gạo, chích Mật ong, chích đường, chích nước Cam thảo...Ví như tăng tác dụng kiện tỳ của Bạch truật thì chế với cám, hoàng thổ hoặc sao vàng. Hoài sơn sao vàng; Hoàng kỳ trích mật....
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở thận, bàng quang thì chế biến để vị thuốc có màu đen, vị mặn. Qui kinh Thận: Chế biến thuốc với nước Muối, nước Đậu đen. Ví dụ : Tăng tác dụng bổ thận của Hà thủ ô thì chế biến với nước đậu đen, Đỗ trọng và Cẩu tích với muối.; Thục địa chưng; Hoa hoa thán và Trắc bách diệp thán sao để cầm máu với ý nghĩa “đen chỉ huyết”....
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở phế thì chế để vị thuốc có vị cay, màu trắng. Qui kinh Phế: Chế biến thuốc với nước Gừng, nước Phèn chua, nước Cam thảo... Ví dụ: Bán hạ, đẳng sâm chế dịch nước gừng. Rễ dâu bóc lấy vỏ, bỏ vỏ ngoài tạo Tang bạch bì...
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở tâm thì chế biến để vị thuôc có vị đắng, màu đỏ. Qui kinh Tâm: Chế biến thuốc với nước Đồng tiện.
 
- Tăng tác dụng của thuốc ở can, đởm thì chế biến để vị thuốc có vị chua, màu xanh. Qui kinh Can: Chế biến thuốc với Dấm. Ví dụ Hương phụ, Sài hồ, Huyền hồ chế dấm....
 
Trên đây chính là phương pháp tăng tính qui kinh của vị thuốc, làm cho tác dụng và chỉ định chữa bệnh của vị thuốc được mở rộng.
 
- Để dẫn thuốc phía trên để thăng đề, cần chế biến thuốc với rượu (như chế Xuyên khung, Đại hoàng, Thăng ma...)
 
   Một số chú ý quan trọng:
 
a/ Việc sử dụng các phụ liệu để chế biến thuốc phải phù hợp với tính qui kinh bản thân vốn có của thuốc, không bừa bãi làm thay đổi tính chất qui kinh. Ví dụ: Bạch truật qui vào kinh tỳ, vị. Chế biến để tăng tác dụng kiện tỳ vị, không thể chế biến để bổ can thận.
 
b/ Việc sử dụng các phụ liệu để chế biến thuốc phải phù hợp với tính qui kinh bản thân vốn có của thuốc, không bừa bãi làm thay đổi tính chất qui kinh.
 
Ví dụ: Bạch truật qui vào kinh tỳ, vị. Chế biến để tăng tác dụng kiện tỳ vị,
 
không thể chế biến để bổ can thận.
 
c/ Người ta thường không dùng các phụ liệu làm ảnh hưởng tới tác dụng của thuốc.
 
Ví dụ: Thuốc bổ thận dương tẩm Cam thảo sẽ hạn chế các thuốc đó qui kinh thận; Ngưu tất là thuốc cố hạ, đi xuống phía dưới cơ thể nếu tẩm với nước Cam thảo là thuốc cố trung sẽ làm cho Ngưu tất không phát huy tác dụng ở hạ tiêu.
 
d/ Có thể làm giao tính qui kinh của vị thuốc.
 
Ví dụ: Để giúp cho tâm thận giao nhau thì chế Hoàng liên với nước Nhục quế hoặc ngược lại và nhằm mục đích dẫn dương vào âm, để tâm thận giao nhau giúp vị thuốc có thêm tác dụng an thần gây ngủ.
 
e/ Để tăng thêm “vị” cho các thuốc về khí, về dương như thuốc bổ khí kiện tỳ, thuốc bổ thận dương ... thường phải chế biến về vị.
 
Ví dụ: - Thuốc bổ thận dương thường tẩm thêm với muối ăn có “vị mặn” để chúng có đủ cả khí lẫn vị cho thận làm cho tăng tác tác dụng của chúng đối với thận.
 
- Các thuốc bổ khí kiện tỳ cần bổ sung thêm vị nên chúng thường được chích Mật ong, chích đường, sữa để có thêm vị ngọt.
 
Như vậy, khí và vị thường hỗ trợ nhau để tăng sức cho vị thuốc
 
2. 5. Giảm độc tính và tạo đường dùng mới cho thuốc
 
Hầu hết các dược liệu độc phải bào chế để giảm độc trước khi dùng cho người bệnh.
 
Thuốc độc trong y học cổ truyền được chia làm hai loại: Loại có tác dụng mạnh gây nguy hiểm đến tính mạng người dùng (tương đương như độc bảng A và các thuốc gây nghiện) như Phụ tử, Hoàng nàn, Mã tiền... và loại khác gây kích ứng ngứa, nôn... như Bán hạ, Nam tinh, Ráy...
 
Giảm độ độc tức là giảm mức độ độc gây nguy hiểm cho tính mạng, hoặc gây kích ứng gây ngứa, buồn nôn.v.v... cho người sử dụng.
 
Muốn đạt điều đó, người ta phải sử dụng các phương pháp chế biến như:
 
2.5.1. Hoả chế
 
Dùng nhiệt độ để giảm độc tính của vị thuốc
 
Ví dụ: Sử dụng nhiệt độ cao từ 200˚C - 250˚C để phân huỷ chất độc trong dược liệu như đối với Mã tiền..., sấy ở nhiệt độ trên 190˚C Bán hạ sẽ mất vị ngứa.
 
Chất độc bị phân huỷ theo 3 cơ chế sau:
 
- Nhiệt phân: Do độ cao phân huỷ một số thành phần hoá học cấu tạo nên vị thuốc; các chất khác nhau sẽ bị phân huỷ ở mức độ khác nhau; men sinh học bị giảm hoặc mất hoặt tính khi nhiệt độ tăng cao tới 100°C.
 
- Bay hơi: Một số chất dễ bay hơi như tinh dầu, một số chất có cấu tạo ester
 
- Thăng hoa: Antranoid, một số chất trong nhóm alcaloid (cafein...)
 
2.5.2. Thuỷ chế
 
Dùng nước hoặc phụ liệu ngâm, tẩm.... vị thuốc sẽ hạn chế được tác dụng bất lợi theo cơ chế loại trừ hoặc thuỷ phân.
 
- Loại trừ: Sử dụng nước hoặc dịch phụ liệu hoà tan hoạt chất độc và một số thành phần khác.
 
Độ tan của thành phần hoá học phụ thuộc vào độ pH của dịch ngâm. Alcaloid dạng muối tan trong dịch có pH acid, coumarin tan tốt trong dịch có pH kiềm.
 
Ví dụ: Dịch ngâm nước vo gạo làm giảm hàm lượng alcaloid độc trong Hoàng nàn, giảm ngứa của Ráy, giảm tanin và antranoid trong Hà thủ ô đỏ.
 
- Thuỷ phân: Nhiều thành phần có cấu trúc dễ bị thuỷ phân bởi nước (khi ngâm hoặc ủ) thành chất khác.
 
Ví dụ: Thông qua các phương pháp bào chế, chất Aconitin trong Ô đầu (độc bảng A) bị thuỷ phân thành Benzoylaconin có độ độc giảm 400 - 500 lần so với Aconin, riêng Aconin có hàm lượng giảm 1000 - 2000 lần.
 
Sau khi bào chế sẽ tạo thêm hai vị thuốc mới là Phụ tử gồm Bạch phụ tử và Hắc phụ tử (độc bảng B).
 
 
 
2.5.3. Thuỷ hoả hợp chế:
 
Ở nhiệt độ cao có dịch phụ liệu (chưng, cất, nấu.... để giảm nhanh độc tính) dễ chuyển hoá thành phần chất độc trong dược liệu như đối với Phụ tử, Bán hạ.
 
Các phụ liệu được sử dụng bào chế với các vị thuốc độc để giảm độc như Cam thảo, Đậu đen, Đậu xanh, Magie clorid ( MgCl2), nước đảm ba...;
 
Các phụ liệu dùng bào chế để giảm vị ngứa trong thuốc như nước vôi, nước Tro bếp, Gừng tươi , nước vo gạo, nước phèn chua..;
 
Các phụ liệu dùng bào chế để làm giảm tác dụng gây nê trệ, đầy bụng như Sa nhân, Sinh khương, rượu;
 
Các phụ liệu dùng bào chế để làm giảm tác dụng gây táo bón như nước vo gạo, Mật ong.
 
Tuy nhiên, chế biến không hợp lý có thể làm giảm hoạt chất dẫn tới làm giảm chất lượng vị thuốc và giảm hiệu lực chữa bệnh của thuốc.
 
2. 6. Giảm tác dụng không mong muốn của thuốc.
 
Một số vị thuốc có thành phần hoá học gây tác dụng không có lợi cho người bệnh như antranoid, saponin triterpenic, chất nhầy ... Các chất này thường gây ỉa chảy ở người đang rối loạn tiêu hoá, một số tinh dầu gây kích ứng dạ dày. Thậm chí một số chất gây tác dụng ngược lại với tác dụng của hoạt chất. Việc chế biến có thể làm giảm hoặc mất tác dụng này là cần thiết để tăng hiệu lực trị bệnh, tăng độ an toàn cho người bệnh.
 
Ví dụ: Quyết minh tử dùng sống sẽ gây ỉa chảy, liều cao có thể tả hạ, sau khi sao vàng thì thuốc có tác dụng nhuận hạ và giáng áp, sao cháy có tác dụng an thần. Đó là do quá trình sao thuốc, một số hoạt chất mang tính dương, dạng ô xy hoá, tồn tạo tự do. Dạng này, các hoạt chất có tác dụng kích thích thành ruột. Sau khi sao, chúng chuyển sang dạng khử, dạng liên kết và mang tính âm nên giảm hoặc mất tác dụng kích thích thành ruột.
 
Mỗi vị thuốc thường có nhiều tác dụng khác nhau, trong bệnh cảnh của người
 
bệnh này thì nó là tốt, nhưng trong bệnh cảnh của bệnh nhân khác trở thành tác dụng bất lợi, chế biến có thể làm giảm tác dụng bất lợi này.
 
Ví dụ: Thục địa bổ âm, bổ huyết sinh tân dịch. Khi dùng cho người bệnh tâm, tỳ hư thì sẽ gây đầy chướng bụng, rối loạn tiêu hoá. Nếu sao khô thì sẽ hạn chế tác dụng này (giảm bớt tuỷ trong thuốc để tránh hiện tượng tương thừa).
 
Bạch truật có tác dụng kiện tỳ táo thấp. Khi dùng cho người âm hư nội nhiệt, nếu chế với nước vo gạo sẽ giảm tính " ráo" của thuốc.
 
2.7. Thay đổi tính (khí) vị, từ đó thay đổi tác dụng của thuốc
 
Tính vị là hai đặc trưng của vị thuốc và biểu hiện xu hướng và cường độ tác dụng của thuốc. Các yếu tố có thể gây ra thay đổi khí vị của thuốc như nhiệt độ (sao, nướng...), phụ liệu (tính chất của phụ liệu...)
 
- Tăng tính ấm, giảm tính hàn bằng phương pháp hoả chế, thuỷ hoả hợp chế hoặc dùng các phụ liệu tính ôn như sa nhân, gừng, rượu...
 
Ví dụ: Sinh địa vị đắng, hơi hàn, tác dụng thanh nhiệt lương huyết. Thục địa (chế từ Sinh địa) vị ngọt, tính hơi ôn, tác dụng bổ âm, bổ huyết.
 
- Giảm tính đại nhiệt, đại hàn có thể chế bằng cách ngâm trong dịch nước vo gạo, nước cam thảo hoặc sao đen...
 
2. 8. Ổn định tác dụng của thuốc
 
Phương pháp sao, sấy khô (nhiệt độ khoảng 50 - 70°C) làm giảm độ ẩm tránh phân huỷ thành phần hoạt chất của thuốc và tiêu diệt được men, nấm mốc gây hại cho thuốc.
 
Ví dụ: Hoa hoè sao qua, có thể hạn chế sự phân huỷ Rutin trong hoa, duy trì tốt tác dụng lương huyết, hạ huyết áp.
 
Tương tự đối với vị thuốc Hoàng cầm
 
Ngoài ra, để ổn định các dược liệu có chứa Glycozid (tránh Enzym tác động xấu), người ta thường áp dụng phương pháp này.
 
2. 9. Giảm tính bền vững cơ học, tăng khả năng giải phóng hoạt chất
 
Điều đó có nghĩa là tăng hiệu lực của thuốc, thuận lợi cho việc sử dụng.
 
Ví dụ: Cửu khổng, mẫu lệ nung ở nhiệt độ cao (vô cơ hoá) để tán bột.
 
Nhiệt độ có thể làm giảm độ bền cơ học.
 
2.10. Bảo quản thuốc được tốt hơn
 
Do qua chế biến, thuốc có thể tránh được mối mọt, men mốc. Cụ thể:
 
- Làm khô hoặc giảm độ ẩm của vị thuốc.
 
- Làm thay đổi tính chất của một số thành phần hoá học dễ gây nấm mốc như pectin, chấy nhầy, tinh bột, chất đường, chất béo... và diệt nấm mốc
 
- Diệt men (làm mất hoạt tính của men ở nhiệt độ cao) có trong thuốc để ổn định thuốc. Ví dụ: Nhiệt độ cao làm mất hoạt tính của men glycosidase, bảo vệ thành phần glycosid
 
- Tạo thành lớp bảo vệ (Hoàng kỳ chích mật ta được ra lớp màng caramen hoá ở bên ngoài tạo thành lớp bảo vệ ngăn hạn chế vi khuẩn, ký sinh, côn trùng xâm nhập).
 
 
 
III. MỘT SỐ YÊU CẦU CỦA BÀO CHẾ, CHẾ BIẾN ĐÔNG DƯỢC
 
3.1. .Các yêu cầu cơ bản của bào chế, chế biến đông dược
 
* Theo Trần Gia Mô (1562) đời Minh (Trung Quốc) có nói:" Bào chế cốt ở chỗ vừa chừng, non quá thì khó kiến hiệu, già quá thì mất khí vị".
 
Do đó, người bào chế phải thực hiện bào chế đúng kỹ thuật, thích hợp.
 
* Phải đảm bảo hình thức mẫu mã, chất lượng (phẩm chất) sản phẩm.
 
* Người bào chế phải nắm vững về tính dược của thuốc, tương tác thuốc, tương tác giữa thuốc và phụ liệu, yêu cầu trạng thái phẩm chất của từng sản phẩm (vị thuốc, bài thuốc) đáp ứng yêu cầu điều trị.
 
3.2. Các trường hợp tương tác của dược liệu cần nhớ trong quá trình bào chế cũng như sử dụng thuốc
 
   3.2.1. Đơn hành
 
Dùng riêng một vị thuốc cũng có thể phát huy được hiệu quả chữa bệnh của nó. Ví dụ bài Độc sâm thang
 
3.2..2. Tương tu (tác dụng hiệp đồng)
 
Nhiều vị thuốc có tính vị tương tự nhau, khi phối hợp thì tác dụng điều trị tốt hơn.
 
- Kim ngân hoa phối hợp với Liên kiều tăng tác dụng sức thanh nhiệt, giải độc dùng tốt hơn trong các bệnh mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng...
 
- Sinh địa phối hợp với Huyền sâm sẽ làm tăng tác dụng lương huyết, chỉ huyết, tư âm.
 
- Hoàng liên dùng cùng Liên tâm tăng tác dụng thanh tâm hoả.
 
- Đại hoàng dùng cùng Mang tiêu tăng tác dụng tả hạ lên nhiều lần so với dùng riêng từng vị.
 
- Hoàng bá dùng cùng Tri mẫu thì tác dụng tư thận giáng hoả được chắc chắn.
 
- Hoàng kỳ dùng cùng Bạch linh làm tác dụng bổ ích tỳ khí được tăng cường.
 
- Đại hoàng dùng cùng Hoàng cầm làm tăng tác dụng tiết nhiệt.
 
- Bạch truật phối hợp với hoàng cầm để tăng hiệu lực an thai
 
- Thương truật phối hợp với Hoàng bá để tăng tác dụng thanh nhiệt táo thấp.
 
- Hoàng kỳ phối hợp với phòng phong tăng công hiệu củng cố vệ khí
 
- Bán hạ giúp sài hồ dẫn thuốc vào kinh thiếu dương
 
- Hương phụ giúp đào nhân để tán ứ huyết giảm đau....
 
3.2.3. Tương uý
 
Vị thuốc này ức chế độc tính của vị thuốc kia
 
Ví dụ: Bán hạ uý Sinh khương.
 
Bản thân Bán hạ có độc, uống gây ngứa cổ muốn kêu to, nôn lợm.
 
Bán hạ dùng với Sinh khương thì Sinh khương làm mất tính kích thích họng của Bán hạ, đồng thời làm hết tác dụng phụ của Bán hạ như buồn nôn, lợm giọng, trừ đờm. Chính vì vậy, trong chế biến người ta dùng Sinh khương để chế Bán hạ (Khương bán hạ).
 
- Nhân sâm uý Ngũ linh chi;
 
Tuy nhiên, dùng Đảng sâm phối ngũ với Ngũ linh chi sẽ có tác dụng ích khí kiện tỳ, hoá ứ hành trệ để chữa viêm teo dạ dày mạn kèm sa niêm mạc dạ dày (thể tỳ hư huyết ứ) đều thu kết quả cao.
 
- Hoàng liên (vị hàn) phối hợp với Nhục quế (vị nhiệt), tuy đối lập nhau nhưng lại có tác dụng giao lưu giữa tâm và thận.
 
- Đinh hương uý Uất kim;
 
Mang tiêu (Nha tiêu, Huyền minh phấn) uý Tam lăng, Lưu huỳnh
 
Thuỷ ngân uý Thạch tín, Ba đậu ;  
 
Ô đầu (thảo ô) uý Tê giác;
 
Lang lộc uý Mật đà tăng;    
 
Quan quế uý Thạch chi
 
Tuy nhiên có một số tương uý vẫn dùng được như Phòng phong và Hoàng kỳ nhằm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể.
 
Tư­ơng uý hay đư­ợc áp dụng trong việc bào chế thuốc độc và ngay trong điều trị bệnh.
 
3.2.4. Tương ác
 
Là vị thuốc này kiềm chế tính năng, tác dụng của vị thuốc kia.
 
Ví dụ: Hoàng cầm vị đắng tính hàn tương ác Sinh khương vị cay tính ấm
 
Khi dùng chung tính hàn của Hoàng cầm sẽ kiềm chế tính ấm của Sinh khương....
 
Sa sâm ố Phòng phong;      
 
Sơn thù ố Cát cánh
 
3.2.5. Tương sử
 
Là tổ hợp tác dụng hiệp đồng của hai vị thuốc khác nhau về tính vị. Ví dụ: Hoàng
 
Liên vị đắng tính hàn tương sử Ngô thù vị cay tính ấm chỉ nôn; Mộc hương vị cay tính ấm tương sử với hoàng liên vị đắng tính lạnh
 
- Liên kiều vị đắng tính hàn t­ương sử (dùng chung) Ngô thù du vị cay tính ấm để chỉ nôn (cầm nôn) tăng lên. Đó chính là do chúng có khả năng hạn chế tiết dịch nước bọt và dịch vị. Trên cơ sở đó có thể chữa chứng ợ chua của bệnh đau dạ dày.
 
- Hoàng kỳ dùng cùng Bạch linh làm tác dụng bổ ích tỳ khí và lợi tiểu được tăng cường.
 
- Đại hoàng dùng cùng Hoàng cầm làm tăng tác dụng tiết nhiệt.
 
- Xuyên khung, thương truật giúp Ô dược thuận
 
3.2.6. Tương sát
 
Là sự triệt tiêu tính độc của nhau. Chủ yếu áp dụng để giải độc.
 
   Phòng phong trừ độc của Thạch tín,
 
   Đậu xanh trừ độc của Ba đậu.
 
   Ngũ vị tử sát Ô đầu; dùng chung tạo ra chất độc mới
 
   Bạch chỉ sát Hùng hoàng
 
   Hoạt thạch sát Hùng hoàng....
 
   Vì vậy, vận dụng tương sát để giải độc khi bị ngộ độc Asen hoặc Ba đậu...
 
3.2.7. Tương phản
 
Là tổ hợp tương tác giữa hai vị thuốc gây ra phản ứng không tốt hoặc gây thêm độc tính cho cơ thể.
 
Hai vị thuốc khi dùng riêng thì lành, dùng chung thì phản nhau mãnh liệt.
 
Các cặp vị thuốc tương phản cần ghi nhớ.
 
Ba đậu phản Khiên ngưu (Hắc sửu, Bạch sửu);
 
Cam thảo phản Cam toại; Đại kích, Nguyên hoa, Hải tảo.
 
Hải tảo, Bạch cập phản Bán hạ;
 
Bối mẫu, Qua lâu nhân, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm phản Ô đầu;
 
Đại kích phản Nguyên hoa.
 
Các loại sâm (Nhân sâm, Sa sâm, Đan sâm, Huyền sâm, Khổ sâm...) và các vị thuốc Tế tân, Bạch thược đều phản khắc vị Lê lô (Veratrum nigrum).
 
Về nguyên tắc các vị thuốc tương phản nhau thì không thể dùng chung với nhau được.  
 
Điều đó cần hết sức chú ý và nắm vững.
 
Ví dụ: Dùng Tế tân với Lê nô sẽ gây mù mắt cho ngư­ời bệnh, hoặc Nguyên hoa là vị thuốc có khả năng lợi thuỷ nhưng khi dùng với Cam thảo không những không có tác dụng lợi thuỷ mà lại làm tăng tính độc của Nguyên hoa.
 
Ngũ vị tử khi dùng chung với Ô đầu sẽ tạo ra chất độc mới có hại.
 
Tuy nhiên, trong thực tế một số người có kinh nghiệm đã lợi dụng tính chất tương phản của một số vị thuốc để chữa bệnh.
 
Ví dụ: Cam thảo phản Cam toại song người ta đã dùng chính hai vị thuốc này (trong bài Cam toại tán) với mục đích trục đờm ẩm.
 
Tóm lại, khi tiến hành phối hợp các vị thuốc trong một đơn thuốc cần lưu ý tới bảy tình huống trên. Cần khai thác mặt tốt của chúng vào việc chữa bệnh và chế biến thuốc; đồng thời phải hết sức tránh các trường hợp tương phản, tương ác.... để tránh các hậu quả có thể xảy ra khi dùng thuốc cũng như tác dụng kém của thuốc
 
Trong thực tế nên phối ngũ thuốc theo tương tu, tương sử, nếu có vị độc phải khử độc dùng phép tương ố (tương ác), tương sát, tương uý (huý).
 
DS. Nguyễn Thị Hải
TS. Nguyễn Văn Quân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Trung Hoà, Đông y toàn tập, Nhà xuất bản Thuận Hoá năm 2000
2. Nguyễn Xuân Sinh, Phùng Hoà Bình, Dược học cổ truyền – Giáo trình Đại học Dược Hà Nội, NXB Y học 1999 và 2006
3. Đỗ Tất Lợi, Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – NXB Y học năm 2000

X