Hotline

Đông y trị đau dạ day thân kinh tam thoa

2. Y HỌC CỔ TRUYỀN
2.1. Bệnh danh: Đau dây thần kinh tam thoa thuộc phạm trù "Đầu thống" của Y học cổ truyền
 
2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
2.2.1. Nguyên nhân:
Dây thần kinh tam thoa ở hai bên mặt nên thuộc đường đi của Túc thiếu dương đởm kinh, tuy thuộc phạm trù đau đầu nhưng bệnh thường không có quan hêh với những nguyên nhân ngoại cảm là phong, hàn, tà, thấp. Phần nhiều do nội nhân dẫn đến. Bệnh có quan hệ với can, thận.
2.2.2. Bệnh sinh:
Đau dây thần kinh tam thoa do can đởm hỏa thịnh, can khí bất hòa, can bất điều đạt, khí uất lâu hóa ứ, hỏa thịnh dẫn tới động hư của đởm, hỏa của can đởm kích động lẫn nhau, ngăn trở thiếu dương đởm kính phát ra máu.
Trường hợp đau do nguyên nhân phát ra ở thận, phần nhiều do bẩm phú không đầy đủ, hoặc do phòng thất không điều độ, thận tinh suy hao, não tủy trống không mà dẫn tới đau đầu. Cũng có thể do thận dương suy vi, thanh dương không thấu tiết rới kinh mạch, hoặc âm dương của thận không đầy đủ, ất quý cùng nguồn gốc, can âm cũng tổn thương, âm hư dướng quá vượng, dương vượng thường hỏa thịnh, mà dẫn tới đau dữ dội.
2.3. Biện chứng luận trị:
2.3.1. Thể hỏa thịnh dương vượng:
*Chứng trạng: Mặt đau giống như lửa đốt khó nhẫn chịu, đột nhiên phát cơn hoặc có co giật cơ mặt, sau khi dứt cơn như người bình thường, bứt rứt dễ cáu, mất ngủ mộng mị nhiều, miệng không muốn uống, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền.
*Pháp điều trị: Tả hỏa tiềm dương.
*Bài thuốc: Đương quy long hội hoàn ("Tuyên minh luận phương") gia giảm
- Long đởm thảo
06g
- Sơn chi
09g
- Hoàng liên
03g
- Hoàng cầm
09g
- Thạch cao
15g
- Tri mẫu
09g
- Đại hoàng
06g
- Đương quy
09g
- Tế tân
03g
- Bạch chỉ
09g
- Xuyên khung
12g
- Xích thược
12g
- Cam thảo
06g
 
 
*Ý nghĩa bài thuốc:
Đau thần kinh tam thoa khi phát cơn đau tương đối dữ, theo Y học cổ truyền thuộc vào can hỏa thịnh, do vậy lấy thuốc thanh nhiệt tả hỏa nhiều để chữa, như Long đởm thảo, Sơn chi, Hoàng liên, Hoàng cầm, Thạch cao, Tri mẫu...Đại hoàng thông tiện tiết nhiệt; Tế tân, Bạch chỉ tuy tính hơi ấm, nhưng phối hợp với lượng lớn thuốc đắng lạnh, tác dụng chỉ thống vẫn rõ; Xuyên khung, Xích thược hoạt huyết để chỉ thống.
2.3.2. Thể can thận hư cảm hàn:
* Chứng trạng: Đầu não đau rỗng, sợ gió lạnh thổi vào, gặp gió lạnh thì đau nặng, thường kèm choáng váng, lưng gối mỏi mềm, di tinh, đới hạ, tai ù ít ngủ, lưỡi mập, mạch tế vô lực.
*Pháp điều trị: Bổ can thận tán hàn
*Bài thuốc: Địa hoàng ẩm tử ("Tuyên minh luận phương") gia giảm
- Sinh địa
15g
- Sơn thù nhục
09g
- Mạch đông
12g
- Phụ tử
06g
- Nhục thung dung
09g
- Địa long
12g
- Cương tàm
09g
- Xuyên khung
12g
- Tế tân
06g
- Bạch chỉ
09g
- Cam thảo
03g
- Ngũ vị tử
06g
*Ý nghĩa bài thuốc:
Sinh địa, Sơn thù nhục, Mạch đông, Phụ tử, Nhục thung dung, Ngũ vị tử...thuộc vào bài thuốc tạo thành Địa hoàng ẩm tử, có công hiệu tư âm bổ dương, tắt hỏa dứt co giật, những năm gần đây đã được ứng dụng rộng rãi chữa các chứng trạng loại thận hư cảm hàn như bệnh của mạch máu não, tủy sống lưng, bệnh của hệ thần kinh...Địa long, Cương tàm có tác dụng tức phong dứt co giật; Xuyên khung, Tế tân, Bạch chỉ...có tac dụng chỉ thống
2.3.3. Phương pháp châm cứu:
2.3.3.1. Thể hỏa thịnh dương vượng:
- Chọn huyệt chủ: Hạ quan, Phong trì, Túc lâm khấp, Chí âm.
Đau nhánh thứ nhất: Bách hội, Dương bạch
Đau nhánh thứ hai: Quan liêu, Nghênh hương
Đau nhánh thứ ba: Giáp xa, Thừa tương
- Huyệt phối: Can du, Thận du, Thái xung, Thái khê
- Phương pháp: Châm huyệt chủ mỗi lần chọn 2-3 huyệt, huyệt phối dùng cũng chọn 2 huyệt, mỗi lần châm chích dùng phương pháp tả, lưu kim 15 - 20 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
2.3.3.2. Thể thận hư cảm hàn:
- Chọn huyệt chủ: Giống như loại hỏa thịnh dương quá mức bình thường
- Huyệt phối: Đại chùy
- Phương pháp: Châm huyệt chủ mỗi lần chọn 2 - 3 huyệt, Huyệt Đại chùy có thể sau khi châm trên kim cho cứu điếu ngải
2.3.3.3. Nhĩ châm:
Chọn huyệt: Diện giáp, Thượng cáp, Hạ cáp, Thần môn, Chẩm.
Phương pháp: Căn cứ vào vị trí bộ phận đau chọn vị trí huyệt tương ứng, mỗi ngày châm 1 lần, mỗi liệu trình 10 lần
 
Theo: đông y gia truyền

X