Công Ty Phòng Khám Đại Gia Đình DAIBIO

  • Trang chủ
  • Video
  • Thư viện Video

    Title: (0:00:00)
    You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.
  • Trang chủ
  • Phòng Khám Đại Gia Đình DAIBIO
  • Truyền Thống Phòng Khám Đại Gia Đình DAIBIO
  • PDF Print E-mail

     phong kham daibio1

    Truyền Thống Phòng Khám Đại Gia Đình DAIBIO

















    Công Ty Phòng Khám Đại Gia Đình DAIBIO là tập hợp các Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thạc sỹ, Bác sỹ, Lương Y, Dược Sỹ, Kỹ sư trong tập thể Đại Gia Đình có truyền thống làm Nghề Y từ năm 1796.

    Nối tiếp dòng dõi lịch sử của dòng họ Lê với các bậc Khai Quốc Công Thần như Hoàng Đế Lê Thái Tổ, Hoàng Đế Lê Thánh Tông..., dòng họ Lê tại Sơn An Hương Sơn Hà Tĩnh cùng các dòng họ nổi tiếng hiếu học ở Việt Nam như Nguyễn Khắc, Đái Duy... đã có rất nhiều bậc Danh Y của Việt Nam như Lương Y Hàn Lâm Viện Lê Nguyễn Lệ, Lương Y Tham Biện Tiểu Phủ Sứ Lê Kinh Hạp, Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm, Tham Tri Bộ Lễ Lê Khánh Lam Lê Quý Bác, Lương Y Lê Khánh Quyền, Nhà Văn Hóa Bác Sỹ Nguyễn Khắc Viện, Giáo Sư Bác Sỹ Lê Kinh Duệ, Bác Sỹ Lê Khánh Đồng, Đại Tá Bác Sỹ Lê Khắc Thiền, Giáo Sư Viện Sỹ Tiến Sỹ Khoa Học Đái Duy Ban,...  Đại Gia Đình DAIBIO đầy tâm huyết theo đuổi mục tiêu:

    vinh-phuc5

    vinh-phuc9











    Bệnh nhân làm trung tâm, khoa học công nghệ làm động lực, chất lượng để đảm bảo.

     

    1. Hàn lâm viện Thi Độc Lê Nguyễn Lệ:

    Ngài thông thạo nghề thuốc, gặp kẻ nghèo Ngài cho thuốc không lấy tiền, không may mà chết Ngài lại cho cả hòm nữa. Ngài thường dạy các con rằng: 'Nhà ta từ vài đời trở lại nay không giàu cũng không nghèo, chỉ cốt lấy điều trung hậu làm gốc. Từ nay về sau con cháu chớ có tham giàu, đặt nợ lấy lời làm hao phúc nhà. Phàm những của bất nghĩa không hưởng được lâu". Ngài lại bảo con cháu rằng: "Người ta không nên để điều thù oán trong bụng, nếu có ai hiềm khích đương diện thách nói một lần thôi( Nếu có đứa nào đối với mình không tử tế, nhưng đến mòng năm ngày tết nó đến lạy tiên nhân nhà mình thì cũng không nên giận nó nữa. Vì rằng mình nên lấy Tiên nhân mình làm trọng, mà oán riêng của mình làm khinh".

     

    2. Con của Lê Nguyễn Lệ là Lê Kinh Tế

     

    Lúc sinh thời Ngài có tính hào phóng, lại có tài, luôn giữ riêng cho mình một bản sắc trung hậu, không chuộng lòe loẹt bên ngoài, lấy điều ăn ở đức độ của cha ông để làm gương khuyên dạy con cháu. Ngài nói: "Phải giữ mình theo đạo nhân hậu, thật thà, cẩn trọng và làm vui lòng người khác, biết thể tất người khác. Phải luôn luôn răn mình, không kiêu xa, hoang phí và lười biếng. Phải đối xử với bạn bè bằng tấm lòng chân thành, tin cậy". Chẳng thế mà các vị liêu hữu như Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ, Trương Tướng Công Phong Khê đều gửi tỳ thiếp nhờ Ngài trông coi khi họ phải xa nhà vì việc nước. Cụ Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ (cùng quê với Nguyễn Du - Nghi Xuân, Hà Tĩnh) là người văn võ song toàn, là bạn thân với Ngài Hương Đình Lê Kinh Tế, án Sát Sứ tỉnh Bình Thuận (như đã ghi trong bia đá ở nhà thờ họ Lê).

     Năm 1977, ông Hoàng Xuân Hãn, nhân một lần đọc sách ở một thư viện lớn tại Paris đã thấy bài thơ của Nguyễn Công Trứ làm nhân ngày sinh lần thứ 70 (1847) của mình và bài thơ hoạ lại của Ngài Hương Đình Lê Kinh Tế làm để tặng Nguyễn Công Trứ nhân dịp đó.

    Nguyên văn bài thơ của Nguyễn Công Trứ:
     
    Nhật đối nhi tào tự giải di

    Kim ngô bất tự cố ngô thì
     
    Tùy cơ khối lội cung nhân tiếu

    Trực ký quang âm giới cổ hy
     
    Lão thực bất kham trang diện mục

    Anh hoa hà tất nhiễm tu tỳ

    Tự tàm tiễn liệt hào vô trạng

    Tiếu sái Hồng Sơn hựu thị phi.

    Bài dịch của ông Hoàng Xuân Hãn* (1977):

    Nhích mép thường trông trẻ họp bầy

     Gẫm xưa ta khác cái ta nay

    Tùy cơ múa rối cho người nhạo

     Ruổi bóng niên cao ít kẻ tày

     Già cỗi chẵng cần tô mũi mặt

     Anh hoa đâu phải nhuộm râu mày

     Chỉ hiềm non cạn công không mảy
     
    Cười ngất Hồng Sơn tiếng dở hay.

     Nguyên văn bài hoạ lại của Ngài Lê Kinh Tế (1847):

     Thánh thể hồ thiên dưỡng tại di

     Như kim thiên tải nhất phùng thì

     Thăng trầm lợi độn nhân hà độc

     Trở đậu can thành thế diệc hy

     Liễu đắc thác bàn dư thủ đoạn

     Nhận lai thiếu tráng thử tu tỳ

     Thử thân tín bất giang sơn phụ

     Hỷ dự hoàn tha thị dã phi

     Bài dịch của ông Trần Minh Châu** (6/1999):

     Đạo thánh đời vui hợp lẽ trời

     Cho nay thiên tải nhất phùng thời

     Tài hèn chìm nổi đà bao kẻ

     Chí vững giang sơn dễ mấy người

     Giá có thời cơ đua mấy cuộc

     Vẫn giàu gân sức tuổi đôi mươi

     Thân nầy không phụ tình sông núi

     Giám chấp nhân gian chuyện vẽ vời.

     Trong quá trình làm quan, Ngài là người thông minh, chính trực, liêm khiết và đức độ, phong cách giản dị được trên yêu vì, dưới kính nể, luôn vì công lý và nhân đạo và là người quyết đoán, tinh thông nghiệp vụ, , rất giỏi về xét xử nên đã giải thoát cho nhiều người khỏi vòng oan trái do xét xử sai.

     Một đức tính nổi bật nữa của Ngài là trọng nghĩa, khinh tài, yêu quí quê hương, bà con thôn xóm, ví dụ như:


    - Khi chưa đi làm quan, Ngài rất hăng hái khống chế bọn cướp, nhờ đó mà dân làng được an cư lạc nghiệp.

     
    - Khi đã thi đỗ, mặc dầu chưa đi làm quan, nhưng nghe dân phàn nàn về nạn thu thêm thuế do khai man tăng số lượng (trước gọi là nạn phù thu, lạm bổ), Ngài đã đứng ra can thiệp với các quan tỉnh, huyện. Kết quả là thuế đã được thu đúng theo số nhân khẩu, ruộng đất thực tế.

     

    - Sau này khi đã đi làm quan Ngài vẫn luôn quan tâm đến đời sống dân quê nhà. Dân 8 thôn trong xã An ấp thường xuyên kiện tụng, tranh chấp đất đai, Ngài đã cùng quan Thị Độc họ Hà phối hợp với quan tri huyện họ Hồ ra sức phân giải, chia lại địa giới cho các thôn, mới thu xếp mọi việc ổn thoả, nhân dân trong vùng sống vui vẻ hòa thuận, sĩ tử đỗ đạt không ngừng tựa như có Thần Linh đang phù trợ.

    Vì vậy sau khi Ngài qua đời, để nhớ công ơn của Ngài, vào năm Đinh Mão, đời Vua Tự Đức (1867), nhân dân làng Xuân Trì gồm 3 giáp Xuân Lưu, Xuân Cường và Liên Trì đã phối hợp với làng Bình Hòa, làng Văn Giang xây một ngôi đền tại giáp Liên Trì (trung tâm của làng Xuân Trì, đối diện với lăng mộ Ngài), lấy tên là "Tiên Đạt Phúc Thần Từ" để thờ phụng Ngài lâu dài cùng với các vị thần đã làm nhiều phúc đức (Phúc Thần) cho dân làng (mọi chi tiết này đều được ghi lại trong bia đá đang được lưu giữ ở nhà thờ họ Lê, xã Sơn An). Đền có thượng điện, bái đường trang nghiêm, có bài vị khắc trên bia đá ghi tên vị Thành Hoàng án Sát Sứ Lê Kinh Tế, hiệu Xuân Đình ở dòng chính giữa, bên tả là vị Thành Hoàng Phụng Nghị Đại Phu họ Hà, bên hữu là là vị Thành Hoàng họ Hồ (tri huyện Hương Sơn). Nhân dân địa phương thường gọi là "Đình Xạ". Sau cách mạng tháng Tám, Đình Xạ vẫn là nơi hội họp, học tập v.v...

     

    3. Con của Ngài Lê Kinh Tế là Lương Y Lê Kinh Hạp
     

    Cụ Lê Kinh Hạp đọc hầu hết các loại sách, nhưng tâm đắc nhất là sách y dược, loại sách viết về thuốc hàn. Nhiều người bệnh đã được cứu sống nhờ loại thuốc này. Vì thế quan Tham Tri Bộ Binh là Ngô Công Cung đã viết tặng Cụ một đôi câu đối nói về tư cách và đạo đức của Cụ như sau:

     

    "Thuốc đắng cứu về nghìn mạng sống

     

    Quan to đổi lấy Thất Từ Thư"

    (Thất từ thư là sách thuốc)

     

    Đại ý câu đối là ca tụng Cụ dám quên chuyện làm quan to, dám đổi vinh hoa phú quí chốn quan trường để lấy một cuốn sách thuốc. Ngày nay trong cuốn "Sơ khảo lịch sử y học cổ truyền" do Viện y học cổ truyền Việt Nam biên soạn, nhà xuất bản y học ấn hành tháng 9-1995 đã đánh giá tập sách thuốc do Cụ để lại như sau: "Ông Lê Kinh Hạp người ở Hương Sơn, Hà Tĩnh đã để lại tập Xuân Đình Y án kinh trị chư chứng với nhiều kinh nghiệm phù hợp với bệnh cảnh do thời tiết khô nóng của Bắc Trung Bộ bị ảnh hưởng của gió Tây mùa hè gây nên. Tác giả đã chế nhiều phương thuốc hiệu nghiệm trị bệnh thời khí ôn dịch, coi trọng việc dùng huyền sâm, sinh địa, kim ngân hoa, cát căn chí tử. Ông đã ghi lại y án chữa bệnh phong thấp, ông có tâm đắc về sử dụng vị hy thiêm" (trang 51).

     

    Cụ viết văn không chú trọng đến nghệ thuật điêu xảo mà cốt ở khí tiết và phẩm chất. Các tác phẩm của Cụ đã được đóng thành tập. Tập "Xuân đình gia huấn ca" là tập văn cuối đời của Cụ viết để dạy con cháu về đạo đức, tư cách làm người con, người dân, cách đối nhân xử thế ở đời . Tập sách được viết cách đây hơn 1 thế kỷ nhưng nay vẫn còn giá trị giáo dục, con cháu nội ngoại trong dòng họ Lê nhiều người thuộc lòng.

     

    Họ Hàng của Các Cụ có Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm, Tham Tri Bộ Lễ Lê Khánh Lam Lê Quý Bác, Lương Y Lê Khánh Quyền, Đại Tá Bác Sỹ Lê Khắc Thiền, Đại Tá Bác Sỹ Lê Khắc Thiền, Bác Sỹ Lê Khánh Đồng,... cũng là những bậc trọng nghĩa, lấy Y lấy Đức làm đầu.

    4. Hoàng giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm 

     

    Ông là một đại thần triều Nguyễn, nguyên Tham tri Bộ Hình, Phủ doãn Thừa Thiên, Quyền Tổng đốc Thanh Hóa.



       Nguyễn Khắc Niêm sinh năm 1889 tại làng Gôi Vị, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ nhỏ Nguyễn Khắc Niêm đã thông minh tuấn tú hơn người.

       Năm 1906, ông thi đậu cử nhân, trường thi Nghệ An.

       Năm 1907, ông thi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp)[1], khoa thi đình Đinh Mùi, tại Huế.

       Khi thi đỗ đại khoa, được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái, nhà vua đề nghị mỗi vị hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu.

       Tôn tộc đại quy

       Tôn lộc đại nguy

       Tôn tài đại thịnh

       Tôn nịnh đại suy.

           (Trần Đại Vinh đã tạm dịch:

       Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp

       Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan

       Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh

       Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong.)

       Ông được bổ nhiệm làm giám khảo khoa thi Hội năm 1910 ở Huế, thi Hương năm 1912 ở Bình Định. Năm 1920, ông được bổ nhiệm đốc học Nghệ An, đảm trách việc tổ chức các trường học Pháp Việt ở Nghệ An.

       Sau đó ông được điều về kinh đô giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Tham tri Bộ Hình, hai lần giữ chức Phủ Doãn phủ Thừa Thiên (1936 và 1938), Tuần vũ Khánh HÒa,Chủ tịch Ủy ban nghiên cứu Cải lương hương ước ở Huế.

       Tháng 8/1941 là quyền Tổng đốc Thanh Hóa.

       Tháng 2/1942, ông xin về hưu trước tuổi.

       Sau năm 1945,ông tích cực tham gia công tác tại địa phương từ Hội đồng nhân dân xã, ủy ban phòng vệ huyện Hương Sơn, Ban văn hóa tỉnh Hà Tĩnh, ủy viên chấp hành Mặt trận Liên Việt, kiêm trưởng ban cứu trợ thương binh Liên khu 4.

       Năm 1952, ông được chính phủ mời ra Việt Bắc họp hội nghị Liên Việt Trung ương, nhưng vì sức khỏe yếu không đi được.

       Trong cuộc cải cách ruộng đất, ông bị đấu tố, bắt giam và mất tại quê nhà năm 1954.

    Gia đình

    Các con của cụ đều là những người thành đạt, có công lớn với dân tộc Việt Nam.

       Nguyễn Thị Vàng: Nguyên cán bộ Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương. Bà là vợ của Bác Sỹ Lê Khánh Đồng.

       Nguyễn Khắc Viện: Bác sĩ y khoa, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam.

       Nguyễn Thị Thiếu Anh: Nguyên cán bộ Bệnh Viện Bạch Mai.

       Nguyễn Khắc Dương: Bỏ dở luận án tiến sĩ thần học tại Đại học Sorbon (Paris, vè nước làm Quyền trưởng khoa Văn-Triết Viện Đại học Đà Lạt.

       Nguyễn Khắc Phê: Nhà văn, Chủ tịch Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên-Huế, nguyên phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên-Huế.

       Nguyễn Khắc Phi: Giáo sư văn học, giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Vinh, nguyên Tổng biên tập Nhà xuất bản giáo dục.

       Nguyễn Thị Phương Thảo: từng là Trưởng ban nghiên cứu và Ủy viên Ban Chấp hành trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa V & khóa VI.

     

    5. Tham Tri Bộ Lễ Lê Khánh Lam (Lê Quý Bác)

     

    Dưới triều nhà Nguyễn, lúc đầu, ông đảm nhiệm Ban Tá ở Huyện Hương Sơn Tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó ông làm Tri Huyện Huyện Lệ Thủy, Tri Phủ Phủ Quảng Đại, Phó Sứ Hộ Thành để bảo vệ Thành Nội ở Huế. Về sau ông làm Thị Lang Bộ Lễ và làm Tham tri bộ Lễ ở Huế. Đây là chức vụ chỉ đứng ngay sát sau hàng cấp bậc Thượng Thư trong Triều Đình Huế. Ông làm quan rất thanh liêm, cương trực, hay giúp đỡ dân nghèo và không có tai tiếng gì cả. Ông lại giỏi nghề đông y, thích làm vườn trồng cây, nuôi ong mật. Khi ở kinh thành Huế, mặc dù đang giữ cương vị Tham Tri Bộ Lễ trong triều đình, ông vẫn đi giúp người dân chữa các bệnh hiểm nghèo như bệnh dịch tả (Cholera) hoành hành khắp nơi, ông đã rất nhiệt huyết cứu chữa và có hiệu quả cao. Ông về hưu sau khi Nhật đảo chính Pháp. Sau cách mạng, ông chủ yếu làm thuốc và chữa bệnh. Sau cách mạng tháng Tám, ông không theo nước ngoài mà đưa cả gia đình sơ tán về Sơn An, Hương Sơn. Ông có tham gia hội phụ lão cứu quốc và mất ngày 3 tháng 9 (1954).

     
    Những người con của ông đều có nhiều đóng góp cho đất nước như Bác Sỹ Lê Khánh Đồng là một trong những người sáng lập khoa Y học cổ truyền của Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội và Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương ở Việt Nam, nguyên Giám Đốc Sở Y Tế Nghệ An, nguyên Giám đốc bệnh viện Vinh, nguyên Trưởng phòng huấn luyện Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương; Giáo Sư Lê Khánh Bằng từng làm chủ nhiệm bộ môn Lý luận dạy học, khoa Tâm lý, Đại học Sư phạm Hà Nội và chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước: “Cải tiến phương pháp giảng dạy trong các trường Đại học và Cao đẳng”; Giáo Sư Lê Khánh Trai chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về Y Học Cổ Truyền, ông đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng toán học xác suất, toán học cao cấp áp dụng và trong Y Học Cổ Truyền Dân Tộc; Lê Khánh Cận làm phụ trách Khu học xá Trung Ương của Đảng ta ở bên Trung Quốc trong những thời kỳ đầu của kháng chiến chống Pháp;…



    6. Lương Y Lê Khánh Quyền

     

    Ông trước học trường Quốc tử giám ở Huế, về sau thành thầy thuốc nổi tiếng, biết kết hợp Đông Tây y chữa được nhiều bệnh hiểm nghèo. Tận tình với người bệnh nhất là người nghèo, bà con họ hàng. Ông đã được tỉnh ủy Nghệ An và Văn phòng trung ương Đảng mời chữa bệnh cho một số cán bộ cao cấp có kết quả tốt. Ông là người thông minh, khảng khái, quả cảm có trình độ học vấn về y học dân tộc chuyên sâu. Khi mới Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 ông có tham gia công tác tài chính ở mặt trận Việt Minh và ủy ban Hương Sơn. Ông là thầy thuốc nổi tiếng chữa bệnh thường xuyên cho các nhà lãnh đạo Việt Nam như cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị,....
     

    7. Đại Tá Bác Sỹ Lê Khắc Thiền


    Ông lúc nhỏ là Lê Kinh Thiền, mẹ chết khi mới 2 tuổi ở với ông bà ngoại tại Vinh. Khi học lớp 3 tiểu học ở Quốc học Vinh, bằng sơ học yếu lược của ông ghi nhầm chữ lót là Khắc nên từ đó lấy luôn là Lê Khắc Thiền. Năm 1930 về học lớp nhất ở quê ngoại tại trường Thái Yên. ở đây ông được kết nạp vào tổ chức học sinh bí mật của Đảng cộng sản Đông Dương.Trong thời gian 1930-1931 ông làm tổ trưởng rồi là liên tổ trưởng ở trường tiểu học Thái Yên, in và rải truyền đơn, vận động học sinh tham gia các cuộc mít tinh. Khi trường bị đóng cửa, bản thân không bị lộ (vì tuổi nhỏ) ông ra Vinh học lại lớp nhất ở trường tiểu học Cao Xuân Dục, thi đỗ đầu tiểu học tỉnh nghệ An, sau thi đỗ thứ 2 vào trường cao đẳng tiểu học ở Quốc học Vinh. Trong 4 năm liền học ở đó ông đều được giải thưởng danh dự hàng năm vì luôn đầu lớp. Năm 1936 ông đỗ thứ 3 cao đẳng tiểu học trong toàn Trung Kỳ, cũng năm đó ông đỗ đầu vào lớp sư phạm mở ở Huế. Trong 6 tháng ở Huế, ông đã tham gia cuộc vận động lấy chữ ký các tầng lớp nhân dân đòi triệu tập đại hội đại biểu nhân dân Đông Dương để họ trình bày nguyện vọng (phong trào này của mặt trận bình dân do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo). Sau ông ra Hà Nội kiếm việc làm, vừa dạy tư vừa học thêm. Giữa năm 1937 ông thi đỗ tú tài phần 1 ở Hà Nội. Sau đó ông vào học lớp đệ tam trung học chuyên toán của trường Bưởi. Ông đã đỗ tú tài toán học và học lớp dự bị ĐH để lấy bằng Lý-Hóa-Sinh (gọi tắt là PCB). Có bằng này ông được vào ĐH y khoa HN. Trong 6 năm học ở trường y ông luôn được điểm cao ở các kỳ thi, vì vậy luôn được cấp học bổng.

     

    Từ năm 1942 ông tham gia Tổng hội sinh viên và được bầu vào Ban chấp hành do Dương Đức Hiền (sinh viên khoa Luật) làm chủ tịch (sau ông Hiền lập ra Đảng Dân chủ Việt Nam). Ông là người soạn lời cho ca khúc "Tiếng gọi sinh viên" (nhạc của Lưu Hữu Phước)

     

    Năm 1943 sinh viên Lê Khắc Thiền đã cùng với bác sĩ Phạm Khắc Quảng (giảng viên lâm sàng ở trường Y) soạn cuốn danh từ y học làm công cụ đầu tiên cho việc biên soạn tài liệu y học bằng tiếng Việt.

     

    Các hoạt động của ông Thiền đã được ghi lại trong sách "Sơ lược lịch sử y tế Việt Nam" tập 1, do Bộ y tế soạn và nhà xuất bản y học ấn hành năm 1995.

     

    Từ tháng 10-1944, ông bắt liên lạc được với Nguyễn Tạo (cán bộ cách mạng kỳ cựu vượt ngục từ Ban Mê Thuột). Nhờ đó ông đã mấy lần gặp Đ/c Nguyễn Lương Bằng (Chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh).

     

    Tháng 3-1945, ông Thiền đã cùng ông Tạo về hoạt động ở Nghệ Tĩnh. ông phụ trách công tác quân y và liên lạc cho đội du kích do Nguyễn Tạo chỉ huy, hoạt động ở Tràng Sim vùng miệt rừng Hương Sơn. Tháng 7-1945 ông làm đội trưởng Đội tuyên truyền xung phong vũ trang của Việt Minh huyện Hương Sơn, tham gia cướp chính quyền ở huyện rồi được giới thiệu về làm ở Quốc gia tự vệ cục Nghệ An (nay gọi là Ty công an). Ban đầu chuyên nghiên cứu tài liệu do Pháp để lại, sau là phó ty chuyên phụ trách việc giam giữ thực dân và tiếp xúc với gia đình chúng. Tháng 9-1945, ông vào miền Đông Nam Bộ làm phái viên công an. Cuối tháng 10 năm đó, ông xuống Mỹ Tho (nơi có trụ sở của công an và ủy ban kháng chiến Nam Bộ) và bị bắt ở đó, giặc cho nhận diện thấy không hề hoạt động chính trị nên đã thả, cấp giấy tờ đi lại trong vùng địch chiếm. Sau bị bắt lại và bị tra tấn rất dã man, ông đã vượt qua thử thách, không để lộ hoạt động của mình mà chỉ thừa nhận có tham gia hoạt động Hồng thập tự. Chúng đưa ông lên Sài Gòn giam ở bóp mật thám Catinat và khám lớn Sài Gòn. Cuối cùng vì người bị bắt quá đông mà tra hỏi ông không được gì nên chúng đã thả ra (vào lễ Noen 1945) nhưng không cấp giấy tờ. Nhờ đồng bào che chở, ông đã ở lại Sài Gòn, Chợ Lớn hoạt động trong nhiều tháng trời rồi ra vùng tự do. Sau khi có hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, ông Thiền ra Bắc, tháng 8-1945 ông được điều vào hoạt động quân y cho đến khi nghỉ hưu tháng 12-1979. Trong cuộc đời hoạt động quân y của mình ông Thiền đã từng làm quân y trưởng trung đoàn 57 ở Nghệ An, 101 ở Thừa Thiên kiêm trưởng ban dân y Thừa Thiên, trung đoàn 103 ở Hà Tĩnh, trung đoàn 77 ở Thanh Hóa, quân y trưởng mặt trận Bình Trị Thiên, trưởng phòng quân y Liên khu Bốn.

     

    Tại Cục quân y (Hà Nội) ông đã làm phó phòng cán bộ , trưởng phòng huấn luyện, Viện trưởng Viện quân y 103, kiêm phó hiệu trưởng trường sĩ quan quân y (tiền thân của học viện quân y).

     

    Tháng 9-1960 đến tháng 5-1963 tham quan và học tập về nội khoa và đông tây y kết hợp ở Trung Quốc. Về nước ông tiếp tục giữ các cương vị sau:

     

    Viện trưởng bệnh viện trung ương quân đội 108 (1963-1966)

     

    Quyền viện trưởng Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô (1966-1969)

     

    Viện trưởng Viện nghiên cứu đông y (1969-1974)

     

    Chuyên viên nghiên cứu đông tây y kết hợp ở cục quân y (1974-1979)

     

    Nghỉ hưu tháng 12-1979 với quân hàm Đại tá.

     

    Ngoài việc biên soạn các tài liệu giảng dạy đông y (cục quân y đã cho xuất bản một số), ông đã làm chủ bút tạp chí đông y trong 5 năm và tham gia Hội đồng khoa học Bộ y tế, Hội đồng khoa học quân y của Bộ Quốc phòng.

     

    Ông còn có hơn trăm bài thơ, có bài đăng trên tạp chí văn nghệ, có bài được đăng trong tập "Thơ kháng chiến thời kỳ chống Pháp" của Hội nhà văn.

     

    Ông đã được thưởng:

     

    -         Giấy tuyên dương công trạng trong toàn quân Liên khu 4

     

    -         Ba huân chương chiến sĩ vẻ vang (nhất, nhì, ba)

     

    -         Hai huân chương chiến công (đều là hạng hai)

     

    -         Huân chương chiến thắng hạng hai

     

    -         Huân chương chống Mỹ hạng nhất

     

    -         Huân chương quân công hạng hai

     

    -         Huân chương Độc lập hạng ba

     

    -         Huy hiệu quân kỳ quyết thắng

     

    -         Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

     

    -         Huy hiệu vì sự nghiệp xây dựng Thủ Đô.

     

    8. Giáo Sư Bác Sỹ Lê Kinh Duệ

     

    Ông sinh năm ất Sửu (1925), khai sinh 1927, mồ côi mẹ từ khi lên 4, ông được bà nội nâng niu chăm sóc, cha kèm cặp dạy dỗ. Ông thẳng thắn, chân phương, hiền hậu, nhưng hay bất bình với những điều tiêu cực, ngang trái kể cả với cấp trên của mình; ngược lại ông rất độ lượng với cấp dưới. Ông có tư chất thông minh nhưng nổi bật là có tinh thần vượt khó, tự học vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Với tư chất thông minh và hiếu học ông đã trở thành học sinh giỏi, thi đậu tú tài toàn phần trước thời gian quy định 1 năm trong khi vừa học vừa dạy thêm tại trường Quốc học Huế.

     

    Sau đó ông rời Huế ra Hà Nội ở Đông Dương học xá (nay là cơ sở trường Đại học bách khoa Hà Nội) để theo học đại học y khoa Hà Nội. Đang học thì Cách Mạng tháng Tám đến và toàn quốc kháng chiến bùng nổ, mặc dù mới cưới vợ được 3 tháng ông vẫn xung phong vào quân đội theo ngành quân y lên Việt Bắc, rồi đi nhiều chiến trường như: Mặt trận Hải Kiên, chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Trung du), chiến dịch đồng bằng (Ninh Bình), chiến dịch Điện Biên Phủ (tức chiến dịch Trần Đình), chủ yếu làm ngoại khoa, thỉnh thoảng ông về học bổ túc thêm nội ngoại khoa ở trường Đại học y khoa (ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang). Năm 1952 tốt nghiệp Đại học y, tiếp tục phục vụ trong quân đội ở sư đoàn 304, rồi phụ trách quân y viện K71, K32, K34 ...

     

    Năm 1956 ông chuyển ngành sang bộ môn da liễu trường Đại học y Hà Nội. Sau hơn 20 năm miệt mài tự học qua sách báo và thực tế, vừa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm vừa nghiên cứu ở thực tiễn, ông đã được phong hàm Giáo Sư bậc 2. Năm 1997, ông được Chính Phủ quyết định là "Chuyên Gia Cao Cấp" đầu ngành Da liễu Việt Nam.

     

    Ông là người có công lớn xây dựng ngành da liễu Việt Nam từ một khoa nhỏ của Bệnh viện Bạch Mai trở thành Viện Da liễu trung ương được xếp loại1. Ông đã góp phần đào tạo hàng ngàn y, bác sĩ hiện đang công tác trong khắp cả nước.

     

    Nhờ có mạng lưới y, bác sĩ đó mà ông đã tiến hành thành công một công trình khoa học mang tính nhân đạo, xã hội và nhân văn, đó là "Thanh toán bệnh phong từng vùng" (tức bệnh Hủi, bệnh Cùi). Nhờ đó đến năm 1996, nước ta đã được Quốc tế công nhận có tỷ lệ bệnh phong thấp và có thể coi bệnh phong không còn là vấn đề y tế công cộng ở Việt Nam. Nhờ đó ông đã được Tổ Chức y tế Thế giới mời đăng cai Hội nghị quốc tế đầu tiên về Thanh toán bệnh phong (1994) tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Năm 1995 ông đã cùng vợ sang Thuỵ Sĩ nhận Giải thưởng Quốc tế do Tổ Chức Y Tế Thế Giới trao tặng (tại Hội trường của Liên Hợp Quốc).

     

    Ông đã viết nhiều sách giáo khoa, sách chuyên đề bằng thơ hoặc văn xuôi., có tác phẩm được giải nhì của Bộ Văn hoá (1962-1963). Ông có thể sử dụng 4 ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Đức). Nhờ vậy ông đã lập được nhiều quan hệ hợp tác quốc tế như với: Y Tế Thế Giới, Hà Lan, Bỉ, Pháp, Nhật, Mỹ, Anh, Italia ... và đã dự rất nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và khu vực, vì vậy Viện da liễu đã nhận được nhiều viện trợ quốc tế.

     

    Ông đã từng là phó chủ tịch Hội các nhà nghiên cứu về phong nói tiếng Pháp (ALLF), Chuyên viên quốc tế về phong, ủy viên Hội đồng tư vấn Hội chống phong quốc tế (ILA), Hội viên danh dự Hội da liễu cộng hòa Pháp.

     

    Ở trong nước ông đã từng làm: Quân y trưởng trung đoàn, Đội trưởng Đội phẩu thuật sư đoàn, Quân y viện trưởng một số quân y viện (K42,K34...), Chủ nhiệm Bộ môn da liễu trường ĐHY Hà Nội, Chủ nhiệm khoa Da liễu BV Bạch Mai, Viện trưởng Viện Da Liễu Việt Nam, Chuyên gia cao cấp đầu ngành da liễu VN, Chủ tịch Hội Da Liễu Việt Nam. Ông đã được thưởng:

     

    -         Huân chương chiến thắng hạng nhì,

     

    -         Huân chương lao động hạng ba và hạng nhì,

     

    -         Huân chương chiến sĩ vẻ vang,

     

    -         Danh hiệu nhà giáo ưu tú,

     

    -         Giải thưởng nhà nước về nghiên cứu khoa học,

     

    -         Huy hiệu vì sức khoẻ mọi người (của Y tế Thế Giới)

     

    -         "Giải thưởng quốc tế Sasakawa-World Health Organization Health Prize"

     

    9. Bác sỹ Lê Khánh Đồng

     

    Ông là một trong những người sáng lập khoa Y học cổ truyền của Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội và Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương ở Việt Nam, nguyên Giám Đốc Sở Y Tế Nghệ An, nguyên Giám đốc bệnh viện Vinh, nguyên Trưởng phòng huấn luyện Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.

     

     

    •             Lê Khánh Đồng sinh năm 1905 tại xã Sơn An, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

     

    •             Năm 1931, ông tốt nghiệp Trường Y khoa Đông Dương và được phân công công tác tại Bệnh viện Xavanakhet ở Lào. Sau đó công tác ở các bệnh viện ở Nam Định, Hà Nội.

     

    •             Năm 1946 - 1952, ông phụ trách quân y Trung Đoàn Bình Định của Việt Minh.

     

    •             Năm 1953 - 1957, ông làm Giám đốc Bệnh viện Vinh và Giám đốc Sở Y Tế Nghệ An.

     

    •             Năm 1957: ông cùng một số bác sỹ tâm huyết sáng lập khoa Y học cổ truyền của Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội và Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương.

     

    •             Năm 1958 - khi nghỉ hưu: ông làm trưởng phòng huấn luyện tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương và đồng thời giảng dạy Đông Y Truyền Thống Gia Truyền tại khoa Y học cổ truyền Trường Đại Học Y Hà Nội.

     

     

    •             Ông là một trong số ít người sáng lập Y học cổ truyền ở Việt Nam thời kỳ hiện đại. Ông thành thạo tiếng Pháp, tiếng Trung và tiếng Nhật cũng như sáng tác nhạc và thơ văn. Những năm 1926 - 1929, ông tích cực tham gia phong trào thơ mới và cho in tập thơ "Buông" để lại nhiều ấn tượng cho độc giả cả nước, ông có tên trong Bộ Sách Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân - Hoài Thanh.

     

    •             Ông được tặng Huân Chương Kháng Chiến chống Pháp, Huân Chương Kháng Chiến Chống Mỹ hạng nhất.

     

    •             Ông luôn thể hiện là một người lạc quan luôn xem các vấn đề về Y học theo chiều hướng hiệu quả và đơn giản hóa. Ông viết sách "Châm cứu đơn giản" năm 1962, dịch "Các phương pháp chữa bệnh" của Nhật Bản năm 1969 và sách "Cây nhà lá vườn" năm 1959. Ông đã chế xuất từ thảo mộc thiên nhiên với Truyền Thống Gia Truyền 893 để tạo ra Dầu Gội Tắm Đông Y 893 với thành phần chính là Nước, Bồ Kết, Hương Nhu, Hoa Ngũ Sắc, Hà Thủ Ô cùng thuốc chữa các bệnh ngoài da để điều trị vẩy nến, á sừng, tổ đỉa, trứng cá, viêm da. Các bộ sách cũng như các bài thuốc đông y chữa bệnh ngoài da và các bệnh nội khoa có tiếng vang rất lớn khi nó đem lại sự dễ hiểu và dễ gần của nền y học truyền thống gia truyền đến với bạn đọc gần xa.

     

    Bác Sỹ Lê Khánh Đồng là đời thứ 20 dòng dõi vua Lê Thái Tổ - người sáng lập ra Nhà Hậu Lê nổi tiếng của Việt Nam. Bố ông là Lê Quý Bác - từng làm Tham Tri Bộ Lễ Triều Đình Huế. Vợ đầu của ông là Trần Thị Xuyên, sau khi bà Xuyên mất, ông lấy bà Nguyễn Thị Vàng là con gái Hoàng giáp - Thượng Thư Triều Đình Huế Nguyễn Khắc Niêm (chị ruột của nhà văn hóa, bác sỹ, nhà hoạt động dân chủ nổi tiếng Nguyễn Khắc Viện). Em ruột ông là GS. Lê Khánh Bằng – nguyên chủ nhiệm khoa của Đại Học Sư Phạm và PGS. DS. Lê Khánh Trai – nguyên là nhà nghiên cứu ở Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương.

     

    10. Giáo Sư Viện Sỹ Tiến Sỹ Khoa Học Đái Duy Ban


    Đặc biệt trong Công ty Daibio và Phòng Chẩn Trị Y Học Cổ Truyền Đại Gia Đình Daibio có Giáo Sư Viện Sỹ Tiến Sỹ Khoa Học Đái Duy Ban.

     

    Làng Đai, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá là vùng đất pha cát, ruộng ít, người đông, dân cư lam lũ. Phía Bắc làng là dãy núi Sầm Sơn uy nghi, trầm mặc. Phía Nam làng là dãy núi Chẹt hiểm trở, cheo leo. Phía Đông làng ì ầm sóng biển. Đất lành – nhân kiệt nhưng có lẽ do nghèo đói nên tự ngàn xưa hình như trong làng ngoài xã chưa có ai đỗ đến đại khoa, rạng rỡ bảng vàng, vinh qui bái tổ.

     

    Đầu thế kỷ XX, làng Đai có gia đình người nông dân Đái Duy Xan sống chăm chỉ, cần mẫn và nhân hậu như bao gia đình khác trong làng. Vào một ngày đầu thu năm 1937 từ căn nhà gianh vách đất đã xỉn màu mưa nắng, vẳng lên tiếng rủ rỉ của bà Kế mẫu Đới Thị Nhẹ:

     

    - Mình ạ! Đêm qua tôi gặp một giấc mơ lạ thấy một ông tiên đầu tóc bạc phơ, tay bê một chậu cây rất đẹp, từ ngõ đi vào nhà, vừa đi vừa gọi: Mẹ Dùng ơi! Mẹ Dùng ơi! Ra đây ông cho chậu cây cảnh, giữ mà chơi! Thế là cậu bé Đái Duy Ban ra đời.

     

    Bố mẹ không hiểu vì sao cậu lại sợ học, sợ thầy đến thế. Buổi đầu đi vào lớp cậu chỉ khóc và đòi về bằng được. Bố mẹ có biết đâu chính mắt cậu nhìn thầy trợn mắt, bậm môi vung thước ghè vào đầu ngón tay của các anh đi học muộn, không thuộc bài và còn bắt cả các anh chui qua háng bạn.

     

    Nhưng rồi năm sau, tình hình thay đổi hẳn, cậu bé Ban và mấy đứa trẻ làng Đai háo hức nhập học ở trường Tiểu học Phan Thanh. Đó là ngôi trường quê tuy còn lèo tèo xập xệ nhưng rất ấm lòng. Ở đây khả năng học tập của cậu bé Ban nhanh chóng được bộc lộ. Việc học đối với cậu thật nhẹ nhàng, suôn sẻ. Thuộc ngay lời giảng của thầy trên lớp, Văn hay, Toán giỏi và đặc biệt chữ viết cứ đẹp như tranh vẽ nên cậu nhanh chóng được thày yêu, bạn bè mến phục. Việc học mang đến cho cậu nhiều niềm vui trẻ thơ. Từ đây, cậu có thể ngày ngày đọc sang sảng những câu trong Kinh Phật mà cậu chẳng hiểu gì cả để cho mẹ nhập tâm, những câu kinh như án lâm, án lâm án bộ lâm - án bộ lâm... án ba la bát miệng hồng - án ba la bát miệng hồng... Tối tối, khi trăng lên cậu bê chõng đặt ra giữa sân rồi sang sảng đọc thuộc lòng bài học trước sự sung sướng, tự hào của mẹ cha... và, sướng nhất là những lúc như thế cậu lại nghe thấy tiếng quát mắng của bố thằng Ngọ (cậu bạn cùng lớp) vọng sang: Ngọ! Dậy mà nghe thằng Ban nó đang chửi bố mày kia kìa! Sang mà hót phân cho nó... Cũng từ đây, thi thoảng cậu lại được kiêu hãnh chống tay dạng chân đứng trước lớp cho những thằng học dốt chui qua háng... Dân làng Đai thường nói với nhau: Thằng Ban học giỏi thế là do nó được thừa hưởng phúc đức, đầu óc của cha mẹ, phúc đức là gì cậu chưa rõ lắm, nhưng rõ ràng là cha mẹ cậu sống rất nhân hậu, tối lửa tắt đèn, nghĩa tình với bà con làng xóm. Như chuyện cụ Xân ở làng Cự Nham, xã Quảng Thái đấy! Cậu biết, hoàn cảnh kinh tế gia đình còn rất nhiều khó khăn. Bố mẹ cậu phải thức khuya dậy sớm buôn thúng bán mẹt, mà anh em cậu vẫn phải nhịn đói đi học, bữa ăn chủ yếu là khoai giun- cá lẹp, vẫn phải bữa đói bữa no... Thế mà, khi biết cụ Xân sống cô đơn không có chỗ ngủ, ngày ngày bị gậy đi ăn xin khắp hang cùng ngõ hẻm. Bố mẹ cậu đã đón cụ về nhà, nới thêm một cái chái cho cụ ở, cơm nước phụng dưỡng cho đến ngày cụ mất. Năm 2000, ông có làm một bài thơ về bố mẹ có đoạn viết về cụ Xân:

     

    “Nhà tuy chật nhưng rất hảo tâm

     

    Tôi nhớ ra rồi là cụ Xân

     

    Bố cho ở nhờ đi kiếm sống

     

    Tối về, cụ có chỗ trú thân

     

    *           *

     

    Ăn mày được củ khoai, hạt thóc

     

    Mẹ giúp cho phơi phóng trên sân

     

    Thế mới hay mẹ cha rộng bụng

     

    Con cháu ngày nay hưởng nghĩa nhân”

     

    Thừa hưởng đầu óc của cha mẹ, điều này cậu thấy đúng. Ví như mẹ cậu, có biết tí chữ nào đâu, chỉ nghe cậu đọc mà mẹ nhập tâm đọc lầu lầu từng trang kinh Phật với những từ, những câu vô cùng trúc trắc, trục trặc. Rồi không biết ai dạy mà mẹ cậu thuộc lầu lầu cả cuốn Kiều dầy cộp. Cha cậu thì khỏi phải nói, chữ không biết, toàn tính nhẩm, ngày pha con lợn, bán chịu cho cả trăm người ... tối về đọc lại cho cậu ghi sổ cứ vanh vách không sai, không nhầm một ly, một cắc.

     

    Khi xưa cảnh nhà nghèo đói, bố mẹ cậu đã từng lam lũ kiếm sống nhưng cũng không đủ ăn, đủ mặc.

     

    Gia cảnh có lúc rất sa sút, nhất là dịp tết năm nào cha mẹ vay đôn vay đáo tiền của, của cả làng, cả xã dồn vốn cho anh cả mua tôm he, tôm nò đóng thuyền đi Nam Định bán. Đợi mãi chẳng thấy anh về. Chiều chiều người cha dắt cậu ra bờ biển ngóng đợi thuyền anh... Tất cả vẫn biệt vô âm tín, chỉ mịt mùng vời vợi biển khơi. Ngày 30 tết... cả làng, cả tổng ào ào đến nhà đòi nợ. Người mát mẻ, người giận hờn, người đay nghiến, người quát mắng... Rồi tất cả cũng qua đi trong tủi hờn, nhẫn nhục và cam chịu. Hai tháng sau, người anh dong thuyền không, trở về. Vốn liếng bay sạch vì thua bạc. Cha mẹ cậu lặng ngồi trong bóng tối của căn nhà xơ xác đến điêu tàn. Thương cha mẹ, cậu bé Ban sáng lầm lũi nhịn đói tới trường, chiều lũi lầm dắt trâu đi chăn và cắt cỏ. Một chiều đông gần tết tê buốt. Gió lạnh rin rít quất khắp cánh đồng. Những cây cỏ năn rùng mình soi làn nước lạnh. Đói, rét nhưng cậu bé Ban vẫn nghiến răng dầm mình xuống dưới làn nước băng giá đó để cố cắt một bó cỏ to. Nước ngập đến cổ. Trên bờ, con trâu vẫn uể oải nhai những nhánh xương rồng mà cậu đã cẩn thận phạt hết gai... Bỗng cậu thấy ngực đau tức, không thở được. Cậu buông liềm lả dần lả dần xuống dưới làn nước lạnh... Trong lúc bà con dân làng xa lạ hối hả chạy ra vây quanh cậu, người xoa ngực bóp tay, người cậy mồm đổ nước gừng nóng, người đốt rơm đốt rạ... thì cậu lại thấy mình đi như bay trên cánh đồng lúa trĩu bông vàng hạt, những cây lúa cứng cáp phủ kín vạt cỏ năn. Những thửa ruộng khoai lang củ to như bắp chuối thẫm nâu trên nền cát trắng. Và... cậu đang hớn hở bưng bát cơm trắng tinh, đầy tú ụ ... và cậu ăn, ăn mãi chẳng thấy no... Tội nghiệp, lúc nhỏ vì thiếu đói lâu ngày lại làm việc lam lũ cực nhọc nên cậu nhớ lại sau buổi đi nhổ mạ làm đồng về chỉ khoai khô gánh vài hạt cơm thôi cậu đã chén một lúc tới 15, 16 bát với cà hẫm và canh muối khế chua mà vẫn thèm thuồng chưa thấy đã. Có thời kỳ cậu ăn củ chuối luộc độn khoai nhiều ngày với gia đình như thế, nhưng do sức trẻ nên cứ ngày ngày lớn lên như thổi.

     

    Cuộc kháng chiến toàn quốc của dân ta đã bước vào thời kỳ căng thẳng, ác liệt. Ban ngày địch bắn phá điên cuồng, không gian huyện Quảng Xương luôn ầm ào tiếng động cơ của máy bay Đakota. Các trường học chuyển sang học tối. Lúc này Duy Ban đã học xong cấp 1 và năm nào cũng là học sinh giỏi của lớp. Muốn học tiếp cấp 2, cậu phải tới Quảng Châu cách nhà gần 8 cây số. Còn bom đạn, còn bão tố, còn mưa phùn gió bấc, còn đêm tối mịt mùng... Người cha nói “học lên làm gì nữa, bây giờ thì cố học lấy một nghề, học cái nghề đóng cối xay cũng được đấy. Có cơm ăn lại có cả tiền”. Cậu nài nỉ để được đi học xa. Người cha nói: “con còn nhớ chuyện đêm tết Đoan Ngọ năm nọ không” (Tết mồng 5 tháng 5 âm lịch). Cậu nhớ ra: Tối đó cha sai ba anh em khiêng hai chiếc nồi đồng mười ra giếng đầu làng lấy nước trong để cha làm mâm cỗ dâng lên miếu thờ. Ra đến luỹ kè xóm, ba anh em gặp ma. Con ma đầu tóc xoã xượi, mặc bộ quần áo trắng muốt, lượn sát vào ba anh em... Ba đứa vứt nồi, ù té chạy... Lướt nhìn mặt cậu người cha nói tiếp: Ma kè làng mình là ma trơi: trêu người rồi thôi, còn từ nhà mình lên trường mới phải qua hai khu nghĩa địa mênh mông. Sợ nhất là những ngôi mộ mới chôn. Đêm đêm cứ rỉ rả tiếng khóc than. Gặp ai đi qua nó lôi xuống mộ để nghe ma thở than. Có người chưa nghe hết lời ma than thở đã chết cứng dưới mồ vì sợ. Nghe cha nói vậy, cậu rất sợ nhưng nỗi thích học, thèm học ở cậu vẫn lớn hơn nỗi sợ hãi. và từ đó nhịp sống hàng ngày của cậu thay đổi. Sáng: chăn trâu, cắt cỏ. Chiều: khoảng 3 giờ, ăn vội bát khoai độn cơm cho chắc dạ rồi hấp tấp đến trường. Ngày hè, lúc theo cha khi theo anh đi khắp nơi mua tôm bán mắm.

     

    Tiêu thổ kháng chiến việc đi lại rất khó khăn, có những chiếc cầu chỉ còn chênh vênh một thanh sắt bắc ngang qua sông, có những đoạn đường lổm ngổm đất đá, có những khu vực vườn không nhà trống tan hoang... Chẳng hiếm những hôm cậu bé Ban đến trường người bê bết bùn đất. Sức khoẻ cậu dạo này hình như không được tốt. Cậu nhớ lần cùng anh đến núi Chẹt mua tôm nò về phơi để mang lên thị xã bán. Lúc đi khoẻ thế, lúc về đến làng Chợ Quán chẳng hiểu sao người bỗng thấy nóng bừng bừng, mắt hoa lên và chân tay bủn rủn. Sốt, sốt miên man, người anh phải dìu em vào điếm canh và lo lắng nhìn em nằm bất tỉnh nhân sự... Nhưng học thì không nghỉ. Việc học với cậu vẫn rất nhẹ nhàng... vẫn con ngoan – trò giỏi, học sinh xuất sắc của trường. Cậu nhớ, có lần đang giờ học, cậu được thầy hiệu trưởng gọi lên và nói: các bạn ở huyện Bố Trạch, Quảng Bình thiếu tài liệu học tập... vừa nói thầy vừa đưa cho cậu tập tài liệu viết tay chữ nghuệch ngoạc như gà bới. Em chữ đẹp về viết lại tập tài liệu này để gửi vào cho các bạn. Coi đây là sự đóng góp của em với cuộc kháng chiến của dân tộc. Nghe thầy nói cậu rất vui và cảm thấy mình oai hơn. Không những thế thầy còn giao cho từ nay trở đi những bài học bài làm hàng ngày cũng đều chép lại sạch sẽ để tiếp tục gửi vào trường bạn.

     

    Đến năm lớp 7, Đái Duy Ban được trường trao cho vinh dự lớn. Cậu được đại diện cho học sinh toàn trường đi dự Đại hội học sinh gương mẫu toàn tỉnh Thanh Hoá. Và chính ở nơi đây cậu gặp cô bé Phương – học sinh gương mẫu ở trường bên. Để rồi…

     

    Hoà Bình ... miền Bắc đã hoà bình. Luồng gió mới tươi mát tràn ngập khắp đô thị, làng quê... Hoà trong niềm vui lớn của dân tộc, Đái Duy Ban cũng đón nhận một tin vui mới: Cậu được tuyển thẳng vào trường cấp 3 Lam Sơn – ngôi trường danh tiếng của tỉnh Thanh và toàn quốc. Ngày ấy, trường Lam Sơn được tuyển 2 lớp 8, với số lượng 80 học sinh. Đái Duy Ban được phiên chế vào lớp gồm toàn học sinh gương mẫu, được tuyển thẳng từ 26 huyện và 5 phủ miền núi.

     

    Ngày cậu xách tay nải lên tỉnh nhập học, là ngày cậu nhận ra những niềm vui, và sự kỳ vọng vốn rất ít khi có được trên gương mặt mẹ cha và họ hàng thân thích. Trong tay nải của cậu chỉ có bộ quần áo dài đã rung rúc cũ, vài bơ gạo, một bọc khoai khô và một chiếc khăn mặt màu cháo lòng được xé ra từ một tấm vải diềm bâu đã cũ. Thương mẹ cha và cũng bứt rứt lo: làm sao co kéo cho đủ tiền ăn, tiền học và tiền trọ... Cho nên cậu quyết định vừa làm vừa học. Nên lúc đi làm kế toán cho cửa hàng buôn, lúc nhận dạy trẻ học ở nhà để kiếm bữa cơm tối. Ở trường cấp 3 Lam Sơn, với khả năng trời phú, với ý chí của người học trò nghèo Đái Duy Ban nhanh chóng chiếm được tình cảm mến yêu của thầy cô, bè bạn. Ngày nay, dân làng Đai vẫn nói về việc học của cậu thuở ấy như một giai thoại.

     

    Thời bấy giờ, cả làng Đai rộng lớn mới có một cái xe đạp nhà ông Đới Sỹ Du mà thôi. Đường đi từ nhà đến trường dài 17 - 18 km. Trên đường đi anh em kiếm chuyện nói cho vui. Ông Thết bảo ông Ban: “Này anh Ban chúng tôi biết anh chăm học mà tài nhớ bài nữa, hôm nay tôi và anh Kham cầm quyển sách động vật lớp 8 để theo dõi, còn anh thì nhớ lại đọc quyển sách đó cho chúng tôi nghe, thử xem anh có nhớ hết hay không, hay là chuyện đồn nhảm nhí mà thôi”. Ông Ban bảo: “Đọc vài ba bài còn được, chứ đọc cả quyển sách dày như thế này thì trời nào nhớ”.

     

    Được nước, hai ông lại càng thách già thách non. Ông Ban mỉm cười mà rằng “người ta đã nói không nhớ là không nhớ mà cứ gạn mãi. Thôi! Cầm sách theo dõi lắng nghe này, có sai thì cũng đừng cười nhé”. Ông Ban cho biết quyển sách có bao nhiêu chương, mỗi chương có bao nhiêu bài. Thứ tự các chương thứ tự mỗi bài trong chương...

     

    Hai người cầm sách theo dõi. Còn ông Ban cứ thế nhìn đường hướng về phía trước mà đi, đọc không sai một chữ nào. Hai người nhìn nhau gật đầu... Gần đến cổng trường các bài trong sách ông đọc cũng hết.

     

    Hai người phục ông tài nhớ như Lê Quý Đôn ngày xưa ấy. Rồi người nào về trường người nấy. Việc này làm chúng ta nhớ tới trong bài sưu tầm của ông em họ Đái Duy Canh đọc trong buổi khánh thành nhà thờ họ ngày 8 tháng 5 Giáp Thân thì biết bia của mộ tổ là họ Lê và ông cố tổ là quận công Lê Công Liêu.

     

    …Vào năm Giáp Tuất, cách đây 71 năm, làng Phú Xá được vàng ở biển, sang năm sau phong trào xăm vàng ở đất liền nổi lên. Lúc bấy giờ khu vực Bào thôn dân tình xăm thấy một cái am bằng gỗ muôn, họ cho đó có vàng, nên báo về với tri huyện Quảng Xương, tri huyện lúc đó là tên Bảo Phu về đứng thị thành cho dân khai thác. Không may, đó là khu mộ tổ chúng tôi. Được biết tin đó, họ chúng tôi từ già đến trẻ, từ trai đến gái cùng nhau kéo đến, mọi người đều có vũ khí trong tay, xô xát với tên quan huyện, mọi người nằm ngang dọc la liệt ra đường không cho xe tên quan chạy, tên quan phải ngồi chết dí trong xe. Khi trời đã tối, Bảo phu mới viết thư cấp về cho quan tỉnh để đem xe đến cứu. Khi đêm về khuya họ đã bày mưu tính kế, dùng đèn pin sáng cực đại chiếu vào mắt mọi người, con cháu trong họ không thấy rõ chuyện gì xảy ra nữa, theo các cụ kể lại lúc bấy giờ có ông Thái ghé lưng cõng tên quan huyện từ xe này sang xe khác, Bảo phu lợi dụng cơ hội này và chạy thoát.

     

    Họ lợi dụng chức quyền, mấy ngày hôm sau, tri huyện cho lính về bắt các cụ trong họ về tội chửi mắng người công vụ Nhà nước đem về huyện tù đầy đánh đập tra tấn. Những cụ bị bắt là: ông Sinh, ông của ông Toàn Tăng, thứ 2 là ông Nhạ ông của ông Đái Xuân Thư, người thứ ba là ông Thú ông của ông Bường, thứ 4 là ông Đái Duy Vót, ông bác của ông Hơn, người thứ 5 là ông Dàng ông của ông Canh. Rất tội tình cho các cụ, tuổi già, sức yếu, để khỏi phải tội, người trong họ phải ra sức chạy vạy, không có tiền là không xong. Anh em trong họ phải làm đơn kêu với quan tỉnh về tội Bảo phu đào mộ quan quận họ Đái Duy. Quan tỉnh đòi bằng sắc để làm chứng cứ. Họ đành phải nộp bằng sắc phong mà do Cảnh Hưng, (ông vua thứ 27 nhà Lê cấp), sắc phong quan quận họ Đái bị mất từ lúc đó. Trong họ còn có một ông thầy phù thủy nổi tiếng của tỉnh Thanh Hoá đó là Cụ Pháp Chân.

     

    Sau đây lại là chuyện Cụ thầy phù thủy tự Pháp Chân – họ Đái Duy được các cụ trong họ kể lại:

     

    Ông Pháp Chân là ông thầy phù thủy nổi tiếng lừng lẫy tỉnh Thanh Hoá ngày xưa. Ông học được phép Đông, đạo nội của Đức Thánh Trần giáng thế ở xã An Đông huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hoá.

     

    Ông là con trai của cụ Phấn trong họ.

     

    Ngày ấy, cụ được người ta mời vào vùng Tĩnh Gia để làm việc cúng bái cho một số gia đình. Thời bấy giờ phương tiện đi lại khó khăn không xe cộ, ông phải đi bộ khi đi đến gần Đò Ghép, cụ ra hiệu vẫy tay gọi anh hàng đò hãy chầm chậm một chút chờ cụ với. Cụ dừng chân lại quay về phía sau gọi to: “Các cụ ơi, mau mau chân, ta sang đò một thể” nhưng sự thực sau cụ không có ai lúc bấy giờ cả. Anh hàng đò nói thật to bảo cụ rằng: “Cụ ơi! cháu đã nhổ sào, đò đã đi một đoạn rồi, xin cụ đi chuyến sau vậy”. Cụ thầy đủng đỉnh đến bờ sông. Con đò đã đi được một phần ba quãng đường. Cụ tươi cười bảo rằng “Anh không cho tôi đi thì tôi cũng đi”. Cụ liền ngả chiếc nón đội trên đầu để ngửa trên mặt nước, ung dung lên nón ngồi đi vèo vèo. Còn con đò cứ quay loanh quanh không sao đi được. Mọi người trên đò ngạc nhiên và sợ hãi.

     

    Anh hàng đò tái mặt lấy làm lạ vì anh còn trẻ. Trên con đò có một người đàn ông cao tuổi biết chuyện liền bảo rằng “Ta gặp phải ông phù thủy cao tay rồi. Cụ đùa thôi”, ông bình tĩnh bảo anh hàng đò “Anh xin cụ đi” anh hàng đò cũng như mọi người trên đò đều chắp tay lạy cụ, miệng lẩm bẩm cầu xin.

     

    Trong chốc nhát cụ thầy đã sang bờ sông bên kia. Cụ nói to rằng: “Thôi đi đi”. Con đò ngoan ngoãn đi nhanh hơn mọi lần, mọi người nói với nhau “Thật hiếm có ông thầy phù thủy nào tài năng như thế”. Đó là chuyện “cái nón”, còn chuyện “trổ tài, thi tài” thì như sau:

     

     

    Chỉ biết rằng, thời ấy có một gia đình giàu có ở huyện Nông Cống vào bậc giới thượng lưu, nuôi nhiều con ăn đứa ở hầu hạ trong nhà. Rồi một ngày nào đó chủ nhà thân chinh đến mời cụ thầy họ Đái về nhà mình trừ tà bắt ma qủy quấy nhiễu gia đình.

     

    Cụ thầy chọn ngày lành tháng tốt để gia đình chủ chuẩn bị công việc. Ngày lành tháng tốt đã đến. Gia chủ cho người đến rước cụ về tại gia. Cụ mặc quần trắng áo lương đen, đầu đội khăn xếp, tay cầm ô che đầu kèm theo sách vở. Khi vừa tới chủ nhà, đột nhiên một mụ đàn bà, mặt lạnh như tiền, tay chỉ lên nóc nhà bảo cụ thầy “Pháp có giỏi đưa cái cối đá này xuống”. Một cái cối đá khổng lồ được buộc xung quanh bằng một sợi chỉ treo lơ lửng trên nóc nhà, ai trông cũng sợ không dám vào sợ cối rơi xuống đầu chết không kịp ngáp. Cụ thầy nghiêm nét mặt, không sợ hãi và cũng không còn lạ cái trò thách đố này nữa. Cụ ấn tay quyết, miệng đọc thần chú không ai nghe rõ cụ nói những gì. Mọi người trong nhà sốt ruột lo sợ. Chỉ lo cho cụ không đủ tài chống nổi con tà có nhiều phép thuật cao cường. Sau khi đọc xong cái cối từ trên cao rơi xuống đất nhẹ nhàng. Thấy thế, hắn liền bảo “Pháp giỏi, Pháp giỏi” rồi biến mất. Còn mọi người vui không tả xiết. Họ đặt nguồn hy vọng, vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Ma qủy quái có thầy cao tay. Đó là buổi ban đầu gặp tà trong nhà chủ ấy. Tiếng đồn vang khắp trong vùng.

     

    Cụ thầy chọn ngày giờ để đặt đàn. lễ đàn được đặt trong sân, cái sân nhà giầu dùng để trục lúa. Cùng một lúc mà 20 cái cối kéo lúa lượn quanh sân, lát hết một vạn viên gạch bát rộng thênh thang. Đàn được chôn những cây luồng to cao. Người dâng hương phải dùng thang lên xuống cho tiện. Khi cụ thỉnh bề trên, thần bản địa và tổ tiên gia chủ để làm việc. Lạ thay không một vị nào đến cả. Thực là phức tạp tốn nhiều công sức và thời gian mà chưa được việc. Người trong gia đình và người đến xem cùng sốt ruột. Cụ dừng tay hương và hỏi chủ nhà: “Trong hạt ta còn có thày nào cao tay hay không?” Chủ nhà đáp “Thưa cụ có ạ”. Cụ liền bảo “Hãy cho biết họ tên và nơi ở”. Cụ viết tên tuổi người đó vào một đạo bùa. Sai người nhà đem một cái chum kiệu cỡ lớn mà gia đình dùng để đổ lúa cho gia hạ rửa sạch gánh nước đổ đầy chum. Trẻ già đứng gần chật sân chen nhau xem việc làm của thầy. Chum nước đã đầy. Cụ cầm ba nén hương viết những chữ gì vào không trung tay bắt quyết, miệng đọc lẩm bẩm. Còn đạo tràng tay trái cầm trống con, tay phải cầm dùi gõ vào mặt trống kêu tung tung. Hai thầy trò lượn quanh chum nước, ra hình dáng như diễn viên múa, càng quyến rũ người xem. Được mấy vòng thì chum nước cạn. Lúc này trời cũng vừa rạng sáng. lạ nhỉ. Vậy nước đi đâu mà hết, mọi người nhìn nhau cho việc làm thật kỳ diệu.

     

    Mấy giờ sau, người nhà pháp sư nọ cáng ông ta đến nơi cụ thầy họ ta đang làm việc. Bụng của pháp sư ấy trương phồng. Y không ngồi được, miệng nói thở hổn hển, có vẻ nhọc nhằn lắm. Trước mặt cụ thầy của ta, ông ấy nói. “Thưa cụ, tôi trót dại, trăm lạy cụ, vạn lạy cụ tha mạng cho tôi”. Người nhà của họ cũng chấp tay vái lạy cầu xin. Cụ thầy của ta tươi cười nhẹ nhàng bảo: “tôi làm thầy cũng như ông làm, cứu nhân độ thế có gì là lỗi. Người ta mắc nạn đến nhờ tôi giúp, nào có tranh việc ông đâu mà ông phản tôi, không cho tôi làm. Ông phản như thế nào nói cho mọi người nghe”. Ông ta nói: “Tôi cũng là bậc thầy, họ không nhờ tôi, làm bỉ mặt tôi, nên tôi làm cản trở cụ. Tôi làm đạo bùa thu hồn vía các vị ấy lại, dùng cối đá úp xuống lòng sông cái cho âm binh trông giữ”. Hai cụ thầy giao kèo nhau, không phản nhau nữa. Ông thầy bên kia ấn quyết cối đá từ lòng sông trở lại chỗ cũ. Còn cụ thầy của ta lại ra phép luyện chum nước, nước lại đầy như trước. Bụng của pháp sư kia xẹp đi nhẹ nhàng, người trở lại khoẻ mạnh bình thường. Món quà mà ông ta đem đến cầu xin, cụ thầy của ta không nhận.

     

    Đàn tràng nghi vệ, hương đăng toả sáng rực trời. Cụ thầy tắm rửa chu đáo sẽ bắt tay vào làm việc. Sau khi xin được bề trên, Cụ triệu con tà đến. Tự nhiên ở đâu hắn nhẩy xổ vào ngồi trước mặt pháp sư. Hắn rung đùi kiêu ngạo. Không chờ Pháp hỏi. Hắn bảo: cho ta ba nắm đũa thật to, Cụ thầy bảo gia chủ đem đưa ra, chưa ai hiểu ý hắn ra sao, nhưng riêng cụ thầy đã rõ. Mọi người im lặng chú ý nhìn hành động của tà và cách làm của pháp sư. Đũa được đưa đến, hắn cầm quăng ra trước mặt pháp sư. Ba bó đũa đứng trên sân thành ba hàng dọc, biểu hiện tam quân, trung quân, tả quân và hữu quân. Thấy thế, Cụ thầy cười khà khà. Hắn bảo: “Pháp có giỏi thì hạ quân ta xuống”. Cụ thầy bình tĩnh không vội vàng. Cụ bảo gia chủ: “Cho tôi mượn chiếc lưỡi cày”. Lưỡi cày được mang đến đặt trước mặt của Pháp, Cụ ấn quyết thu hương, lưỡi cày đỏ rực như lò than hồng rồi từ từ bò đi, đi đến đâu thì đũa nằm lăn ra đấy. Đến bấy giờ hắn chịu thua. Gia chủ đưa lễ vật vàng bạc đến xin hắn. Cụ thầy lại hỏi:

     

    “Trước mặt trời đất và thần thánh, trước mặt ta từ nay trở lên nhà ngươi còn quấy nhiễu gia đình nữa không ?”.

     

    Hắn bảo: “Ta thua Pháp sư, ta cho...

     

    Từ đó tà không quấy chủ nhà ấy nữa. Cụ thầy được trọng đãi rất nhiều. Hai mẩu truyện trên tôi kể cho anh em trong họ nghe vào ngày rằm tháng Giêng năm Thìn (2000).

     

    Cụ thầy bảo con cháu trong họ hàng rằng: “Cháu nào muốn làm thầy phù thủy thì đi học ba tháng về ông trao sách cho mà làm, nhưng các cháu yêu quí ạ! Nhất đại vi sư, tam đại bại, không nên làm”. Từ đó cho đến nay con cháu trong họ không ai dám học làm thầy phù thủy nữa, mà phải vâng lời vàng ngọc của tổ tiên để lại.

     

    Để nhớ công ơn của ông giúp đỡ con cháu trong họ đời sau có xây cho Cụ một cái lăng tại cồn mã dứa thuộc địa phận làng Đai, nay vẫn còn nguyên vẹn.

     

    Qua hai câu chuyện lịch sử họ mạc như vậy thì rõ ràng tài năng bẩm sinh về trí nhớ như in của Đái Duy Ban trong dòng họ là cũng có nguồn gốc.

     

    Rồi là chuyện bao la, chuyện ngày ấy cậu Ban điều khiển lễ chào cờ của trường oai như thế nào. Nào là, ngày ấy bài văn mẫu của cậu được đọc trước toàn trường đã gây xúc động cho học sinh ra sao. Nào là, ngày ấy cậu giải toán “mả” như thế nào v.v...

     

    Đến năm học lớp 9, với thành tích học tập và rèn luyện, hiệu đoàn trưởng trường cấp 3 Lam Sơn Đái Duy Ban được theo thày hiệu trưởng Cao Hữu Nhu ra Hà Nội để dự Đại hội Thanh niên toàn quốc và vinh dự được gặp Bác Hồ ở tại Nhà hát lớn để sau gặp lại, thầy trò nhắc lại chuyện gặp Bác và ông tâm sự:

     

    Năm mươi năm biết mấy vui lo

     

    Xa cách nhiều, nặng nỗi nhớ ưu tư

     

    Gặp lại thầy, lòng tôi vui khôn xiết

     

    Vinh dự bao, kể lại chuyện gặp Bác Hồ

     

     

     

    Tôi nhớ rõ, giữa hôm mà Bác đến

     

    Buổi sáng đẹp trời, ríu rít tiếng chim ca

     

    Câu chuyện vui, Bác kể hiền hoà

     

    Căn dặn mãi – tuổi tương lai đất nước

     

     

     

    Sau câu chuyện tôi được bắt tay Bác, Bác cười

     

    Và Bác bắt tay lần lượt nhiều người

     

    Cả hội trường vui lên những lời ân ái

     

    Lời Bác sao văng vẳng – ấm áp tình người

     

     

     

    Thế rồi từ ngày ấy lời khuyên của Bác

     

    Cứ theo tôi đi khắp cuộc đời

     

    Cương vị nào tôi cũng mang hết sức mình

     

    Cống hiến cho đời, niềm vui đẹp nhất

     

    Tốt nghiệp cấp 3, Hiệu đoàn trưởng Đái Duy Ban quyết định xin đi dạy học ở trường cấp 2 xã Tĩnh Hải huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá vì thấy rằng, học lên khó khăn nhà không đủ tiền chu cấp. Dạy học là một việc vô cùng hệ trọng và cũng hệ trọng không kém là bắt đầu từ đây thày đã có lương. Có lương, nghĩa là thày đã tự nuôi sống được mình, thầy đã có “nguồn sữa” để nuôi dưỡng ước mơ, có thể giúp đỡ thêm cho gia đình và có thể ... mua biếu mẹ cha đồng quà, tấm áo... Quân – sư – phụ, vị trí của người thày được xã hội tôn vinh. Thầy phải dạy thật giỏi để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội. Thầy phải rèn đức thật sáng để học sinh noi theo. Nghĩ thế và thầy làm thế! Thầy đã có những tiết dạy thật hay, thật hiệu quả lôi cuốn được sự say mê học tập của học sinh, thày đã tham gia làm lán trại cho học sinh, tham gia tích cực các phong trào văn – thể – mỹ... và, chiều chiều thày gánh đôi sọt đi nhặt phân cho sạch đường làng ngõ xóm. Dân làng ai ai cũng khen ngợi – một ông thầy trẻ có lối sống hay: kính già yêu trẻ, sống sạch làng xanh ruộng. Cứ thế cuộc sống của một đầu tàu gương mẫu đang suôn sẻ trôi. Bỗng một hôm có tin báo: Thầy về nhà ngay, có khách! Thì ra cô Phương – học sinh gương mẫu trường Quảng Châu năm nào, xinh đẹp, đáng yêu cứ nằng nặc đòi đi theo người hàng xóm buôn chè vượt gần bốn chục cây số qua sông qua lạch đến để được anh Ban dạy. Thế mới biết: Việc tầm sư học đạo thật gian nan. Không học ở gần nhà, dám dời xa cha mẹ, đi bộ hơn bốn mươi cây số để được anh Ban dạy. Anh Ban sẽ dạy gì? Cô Phương sẽ học gì? Để bấy giờ thày Ban đỏ bừng mặt. Người hàng xóm nói cứ như thật: Thím ấy bảo, thím ấy phải vào đây để được chú dạy. Lại còn thím thím chú chú, làm gì thày Ban chẳng vừa sướng vừa sợ. Thày sợ những lời dị nghị vì giữa thày với trò Phương đã có gì đâu, ngoài sự mên mến thinh thích nhau từ trước. Thày Ban xếp cho trò Phương ở nhờ nhà của một người học trò cách chỗ ở của thầy một khoảng cách an toàn. Và cứ nửa tháng hoặc một tháng thày đảo qua nhà trò Phương động viên, khích lệ, bảo ban mươi phút đúng chức trách của một người thày: Tất cả vì học sinh thân yêu. Được nửa năm như thế thì trò Phương bỏ học về nhà, lấy chồng để lại trong lòng thày Ban nỗi nhớ nhung, luyến tiếc... Những năm dạy học, học sinh lớp thày Ban phụ trách đều tốt nghiệp trăm phần trăm. Đối với một trường dân lập đó là một kỳ tích.

     

    Thày được Ty giáo dục Thanh Hoá ngợi khen và điều về huyện ủy Quảng Xương dạy học cho các cán bộ chủ chốt như Bí thư, Chủ tịch của huyện. Con đường phấn đấu cho sự nghiệp của thày tiếp tục được rộng mở... Rồi cũng từ đây, thày được Ty giáo dục tỉnh Thanh Hoá quyết định cho đi học ở nước ngoài. Niềm vui quá mức tưởng tượng, vì trong tỉnh lúc bấy giờ có tới hàng nghìn giáo viên nhưng chỉ một mình thày được chọn đi. Ra Hà Nội khám sức khoẻ, không biết có phải vì vui quá không mà thày bị phát hiện là huyết áp quá cao. Thôi thì không đủ sức khoẻ học tập ở nước ngoài, học trong nước cũng tốt thôi. Nhớ đến cái chết bất ngờ của cha, người đang vạm vỡ thế, quắc thước thế... cầm cái chổi ra quét sân, tự nhiên ngã lăn ra rồi chết mà bấy giờ chết chắc là xuất huyết não nặng, thế là thày xin được theo học tại Trường Đại học Y – Dược Hà Nội, đó là tháng 10 năm 1960. Vị thế thay đổi từ thày chuyển sang anh – cậu – chàng sinh viên nên bổng lộc cũng đổi thay từ lương chuyển sang phụ cấp. Cuộc sống cũng đổi thay. Anh ra bãi Phúc Xá (nơi có ký túc xá Trường Đại học Y – Dược Hà Nội), trèo lên cái giường sắt ở tầng ba và ngày ngày ăn xuất cơm tập thể. Cái giường sắt kể cũng lạ, trông ọp ẹp thế, chênh vênh thế nằm ngủ lần đầu chỉ lo rơi xuống sàn, ấy thế mà vững và an toàn hơn chuồng cọp, chưa ai bị lăn xuống sàn bao giờ. Cái xuất ăn tập thể kể cũng lạ: vừa ăn xong, bụng vẫn ngót như chuẩn bị ăn. Đói, thèm thuốc và thiếu tiền. Rồi anh cũng dần tìm ra cách giải quyết. Đói thì ráng chịu, đợi đến chủ nhật, ngày lễ anh sẽ đến thăm họ hàng làng xóm thế là được ngày no, được ngày tẩm bổ. Thèm thuốc thì đợi bóng đêm dần buông, các hàng nước lục tục dọn về ... anh sẽ ra đó nhặt những mẩu thuốc thừa về gỡ ra rồi cuộn lại hút, cũng phì phèo như ai. Còn thiếu tiền thì... anh đã tìm được chỗ dạy thêm. Dạy bổ túc văn hoá cho cán bộ công nhân viên nhà máy cơ khí Trung qui mô tuần từ hai đến ba buổi tối. Thế ổn định đó đã giúp anh vượt qua những khó khăn tưởng chừng khó vượt qua trong học tập. Năm năm học trong trường là năm năm anh đều được báo cáo điển hình sinh viên gương mẫu trước toàn trường. Hết năm học thứ ba, anh sinh viên Đái Duy Ban được trường chỉ định lãnh đạo nhóm nghiên cứu khoa học của trường. Năm 1965, tình hình chiến sự ở miền Nam ngày càng trở lên ác liệt, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Trong khí thế xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, Đái Duy Ban cùng hàng trăm sinh viên năm cuối của Trường đại học Y khoa viết đơn tình nguyện xin vào Nam chiến đấu. Nhiều đồng nghiệp của anh được toại nguyện.

     

    Còn anh... tổ chức yêu cầu ở lại trường làm cán bộ giảng dạy bộ môn Hoá sinh và nghiên cứu tìm hiểu bệnh lý ở mức độ phân tử để tìm cơ chế chẩn đoán và điều trị bệnh. Thế là anh lại là thày, lại có lương, lại có điều kiện nghiên cứu. Chấm dứt những ngày đói, chấm dứt giường tầng, chấm dứt trốn lậu vé tàu điện và giã từ ghẻ lở. Là thày, anh có thể ăn ngủ ngay trong phòng bộ môn (có nhà riêng đâu mà ở). Là thày anh tổ chức ngay các lớp học ngoại ngữ cho sinh viên vì trong nghiên cứu khoa học không nắm chắc một ngoại ngữ nào thì coi như mù chữ. Ai đó nhắc anh: Trong lớp tiếng Pháp có em Lữ Thị Cẩm Vân người Thanh Hoá cùng quê, xinh xắn, con một, tính tình ngoan ngoãn. Xác định đúng và lần này anh sẽ có cách. Không như hồi tình yêu với cô Phương – giữ ý giữ tứ, nặng về lý trí, sống khô khan. Dựa vào tình đồng hương, ăn rau má phá đường tàu, thày Ban đến thăm nhà em Vân. Lần này thày khôn hơn lần trước rất nhiều. Thày đã biết mua dừa, mua bánh đa ở Hà Nội rồi như vừa ở quê ra, có ít đặc sản cây nhà lá vườn mang biếu gia đình để hai bác và em nhớ lại hương vị quê hương. Có khôn thì có hơn...

     

    Năm 1966, chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan rộng Hà Nội - Hải Phòng và các thành phố khác có thể bị tàn phá... Trường Đại học Y Hà Nội sơ tán lên Đu – Bắc Thái. Đó là những ngày tháng gian khổ nhưng ấm áp tình người. Thày trò Trường Đại học Y khoa Hà Nội không phân biệt già trẻ, không phân biệt chức quyền cùng nhau trèo đèo, vượt suối vào rừng chặt nứa, chặt gỗ về dựng lán trại. Các lớp học, các phòng thí nghiệm, các phòng ban... được dựng lên bằng tre nứa... Cơm độn khoai, ngô - bát canh toàn quốc – nước chấm đại dương hoà cùng gió ngàn Việt Bắc, trăng huyền chợ Đu ... đã đưa thày trò Ban – Vân lạc bước Thiên Thai chìm trong suối Mơ thơ mộng.

     

    Đúng lúc đang say say, ngây ngây thì thầy Ban được lệnh: dẫn đầu đoàn sinh viên Y khoa vào Nghệ An – Hà Tĩnh phục vụ chiến trường. Đoàn vào đến Vinh, có một nữ y sỹ trắng mịn như sa tanh, người mảnh mai, yểu điệu không hiểu vì lý do gì cứ quấn lấy thày. làm thế nào chống lại sức cám dỗ mãnh liệt của tạo hoá để giữ trọn niềm tin với người yêu, để xác định tính đứng đắn, trang nghiêm của người thày? Anh đã tìm ra cách, có lẽ đây là phát minh đầu đời của nhà khoa học trẻ: “Viên cầm lòng”, vừa gặp cô gái, anh nói luôn:

     

    “Anh có vợ ở nhà đang sắp đẻ

     

    Cũng một lòng chung thủy như em”

     

    “Viên cầm lòng” này lập tức được phát huy tác dụng: Làm tắt lửa lòng cô gái – phương pháp này sau này anh đã áp dụng cho một số đối tượng khác cũng mang lại hiệu quả rất cao.

     

    Đoàn đến bệnh viện huyện Nghi Lộc, Bệnh viện tan hoang, trống trải. Lòng thày chợt se buồn. Thầy và anh em trong đoàn đã mang hết tinh thần “thầy thuốc như mẹ hiền” chăm lo xây dựng lại bệnh viện, giúp đỡ cứu chữa những vết thương bom đạn cho những người dân, hướng dẫn các bác sĩ, y tá, hộ lý địa phương trong phòng, chữa bệnh và công tác phong trào vệ sinh thôn xóm.

     

    Hoàn thành chuyến công tác biệt phái phục vụ chiến trường trở về, thày lập tức bắt tay vào chuẩn bị cho “trận chiến” mới... Lúc này “trò” Lữ Thị Cẩm Vân đã sắp thành đồng nghiệp và cũng sẵn sàng đồng ý cùng thày. Năm 1968 mở màn bằng cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân... Toàn chiến trường miền Nam sôi sục, bừng bừng khí thế tấn công. ở nơi sơ tán, Trường Đại học Y Hà Nội cũng náo nức, tưng bừng tổ chức đám cưới cho đôi bạn trẻ Ban – Vân. Đám cưới theo tinh thần: tất cả cho tiền tuyến cho đánh thắng giặc Mỹ xâm lược – “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Dù còn trăm nghìn khó khăn thiếu thốn nhưng trong ngày cưới của họ vẫn có thêm vài con chó (dùng làm thí nghiệm xong) được đưa ra xào nấu, thơm nức một góc rừng. Quà mừng cưới dù chỉ có những đôi găng tay, những chiếc mùi xoa, những chiếc khăn mặt, những bánh xà phòng... nhưng rất ấm áp tình người, tình thày trò, tình đồng nghiệp. Chái lán của dãy nhà kho được trường ưu tiên phân cho đôi vợ chồng trẻ làm tổ uyên ương, tuy chỉ nhà tranh vách nứa nhưng đầy nắng, đầy gió, đầy trăng, nằm ven con suối nhỏ róc rách ngày đêm và líu lo chim hót.

     

    Sau tết Mậu Thân Mỹ – Nguỵ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán 4 bên tại Hội nghị Pari. để tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, để thể hiện quyết tâm không gì lay chuyển được của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng dân tộc, cấp trên chủ trương cho quay một số phim tài liệu, trong đó có cuốn quay về Trường Đại học y khoa Hà Nội: sống – chiến đấu – học tập và nghiên cứu trong hoàn cảnh thời chiến như thế nào? Cuốn phim có một đoạn... nhà trường yêu cầu vợ chồng anh tổ chức lại đám cưới. Nghe nói, tổ chức lại đám cưới là một điều không hay nhưng... tổ chức đã yêu cầu ! Đoạn phim đó khi được chiếu lên màn ảnh đã góp phần thể hiện được ý chí của toàn đảng – toàn dân: chiến tranh có thể kéo dài 5 năm – 10 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội – Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp khác đều có thể bị tàn phá... Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do.

     

    Ơn Giời! Ơn tiên tổ sau sự kiện đó hạnh phúc gia đình anh ngày càng nồng ấm, vui tươi. Vợ anh ra trường là Bác sĩ y khoa, ba người con đều mạnh khoẻ, xinh đẹp phương trưởng về học hành. Vợ chồng anh công tác ngày càng tấn tới và tình cảm nồng ấm đến mức chỉ lo... nhỡ sinh đứa thứ tư.

     

    Tháng 6 năm 1969 trường tổ chức một buổi nói chuyện thời sự cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của trường. Sau Mậu Thân là thời kỳ Mỹ “lết”. Cách mạng Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn cực kỳ to lớn: thiếu đạn dược vũ khí, thiếu lương thực, thực phẩm... nhiều đơn vị quân chủ lực phải rút lên căn cứ để bảo toàn lực lượng ... Thày trò Trường Đại học Y khoa Hà Nội sẵn sàng lên đường chia lửa với chiến trường. Giờ giải lao, Giáo sư Nguyễn Trinh Cơ - Hiệu trưởng trường gặp riêng anh. Anh đã sẵn sàng. Giáo sư nói: Xét năng lực và đạo đức, trường quyết định gửi cậu sang Ba Lan làm Tiến sỹ về sinh hoá tế bào, để sau này xây dựng bộ môn mới của trường, ý cậu thế nào? Nếu đồng ý thì về chuẩn bị. Tháng 8 lên đường. Còn ý gì nữa, đúng khát vọng của đời, anh chỉ còn biết nhỏ nhẹ: vâng! Tháng bảy, anh về quê thăm mẹ để báo tin vui, và nhân thể chia tay luôn với anh em, họ mạc. Nào ngờ anh nói xong: mẹ khóc, Bà nói: Con đừng đi. Mẹ dạo này ốm lắm. Sợ lúc chết mẹ con không gặp được nhau. Nhìn mẹ gầy gò, xanh xao, tiều tuỵ anh không nói lên lời. Cảm giác ân hận trào dâng. Nhà có hai bác sĩ mà để Mẹ rơi vào nông nỗi này ư? – Anh nghĩ và rưng rưng nước mắt. Anh em, họ mạc xúm vào động viên, khích lệ bà, rồi bà an tâm, mếu máo cười...

     

    Ngày 10 tháng 9 năm 1969 sau nhiều lo âu, phấp phỏng, đợi chờ đoàn du học sinh đã lên tàu đến Đồng Đăng. sân ga Hàng Cỏ đông nghịt người đưa tiễn. Đái Duy Ban đưa mắt nhìn quanh: nhiều xe con và công an quá. Chẳng lẽ đoàn mình lại quan trọng đến thế ư? Ngồi trên tàu rồi mà anh vẫn lo. Người ta nói: đến Đồng Đăng ai chính thức được đi mới được phát hộ chiếu. Liệu có rủi ro nào ập đến với mình không? Mình thân cô thế yếu quá! Phải mang trả lại va li áo quần thì ... Anh ghìm tiếng thở dài. Rồi mọi việc diễn ra thật suôn sẻ. ngồi lên chiếc ghế êm ái trên con tàu liên vận quốc tế của nước bạn rồi, anh mới thấy yên tâm. Thế là mình được đi học thật rồi. Nhà ga Trung Quốc đàng hoàng quá, lộng lẫy quá! Biết bao giờ Việt Nam mình mới được hoà bình để dựng xây? Chợt nghĩ đến những lần về quê thăm mẹ trên toa đen của những con tàu chạy bằng than đá... Ba ngày sau tàu đến Bắc Kinh. Ở đây, đoàn được nghỉ vài ngày để hoàn tất những thủ tục cần thiết và được bạn đưa đi thăm những danh lam thắng cảnh mà nhiều người đã ngưỡng mộ từ lâu dù chưa một lần giáp mặt. Đến Vạn lý trường thành, bước trên những bậc thang đi đến trời xanh, Đái Duy Ban càng nung nấu sâu thêm ý nghĩ: Vinh quang không bao giờ tự trời rơi xuống. mà nó chỉ được xây đắp bằng mồ hôi, bằng xương máu và trí tuệ con người. Con đường khoa học mà anh đang đi cũng vời vợi nghìn trùng như Vạn lý trường thành trải dài trong vô tận... “Bất đáo trường thành phi hảo hán” – Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói vậy, và anh bỗng thấy mình can trường như một hảo hán đang trên đường thiên lý đến Lương Sơn Bạc. Vào thăm cố cung – Tử cấm thành, nhìn những cung điện nguy nga tráng lệ, những sân chầu lát đá rộng mênh mông, những cầu đá uy nghi trầm mặc... tất cả quyện vào nhau làm rực lên sức mạnh uy nghi của uy quyền tối thượng, anh càng cảm thấy khâm phục vế đối lại của sứ thần Giang Văn Minh của ta thuở trước.

     

    Vua Tàu ra vế đối: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng thời Mã Viện giờ đã rêu phong).

     

    Giang Văn Minh đối lại: Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (Máu giặc trên sông Bạch Đằng tự xưa đến giờ vẫn đỏ).

     

    Thế mới biết muốn để lại cho đời dù chỉ một câu nói, câu thơ mới khó làm sao! Để có câu trả lời tưởng chừng đơn giản ấy, Giang Văn Minh phải có một trí tuệ mẫn tiệp đến thâm sâu, lòng can đảm trượng phu coi cái chết như tựa lông hồng, và lòng tự hào dân tộc đến uy linh. Anh tự nhủ mình: phải cố gắng học tập để xứng đáng với niềm tin của gia đình, đồng nghiệp.

     

    Sau vài ngày nghỉ ngơi, đoàn tàu liên vận quốc tế lại vùn vụt lao về hướng Bắc. Những làng mạc, xóm thôn, thành đô trù phú; những núi đồi, rừng cây xanh mát thanh bình... Giá mà nước nhà hoà bình, thống nhất... Ngân Hà (đứa con gái đầu lòng của anh chưa đến tuổi thôi nôi) sẽ đủ sữa ăn. Cẩm Vân (vợ anh) sẽ có thời gian nghỉ ngơi dưỡng sức, không phải đầu tắt mặt tối vừa phải đi làm vừa phải tất bật mưu sinh. Mẹ không phải vừa tiễn con đi học vừa lấy vạt áo thấm những giọt nước mắt tủi hờn. Con biết mẹ khóc chỉ vì mẹ tủi phận mình, nghèo đến mức không cho được con ít đồng quà, tấm bánh trước lúc con đi xa... Sau tám ngày đêm xuyên qua Đại lục Trung Hoa, xuyên qua Xibêri băng giá đoàn tàu dừng bánh ở Matxcơva. Matxcơva với những quảng trường rộng thênh thang, những dòng xe cộ đan nhau như mắc cửi, những ga xe điện ngầm lộng lẫy... Anh kinh ngạc trước sự phồn vinh, hùng cường của bạn. Hình ảnh này từ đó ám ảnh trong anh... Đoạn đường từ Matxcơva đến Lódz (thành phố con tàu của Ba Lan) là đoạn đường tuyệt đẹp. Tàu xuyên qua những cánh đồng bát ngát xanh thẫm mỡ màu, những cánh rừng bạch dương mơ màng quyến rũ, bất giác anh bật đọc câu thơ của Tố Hữu

     

    Em ơi! Ba Lan mùa tuyết tan

     

    Đường Bạch dương sương trắng nắng tràn

     

    Sau một năm ở Lódz học tiếng Ba Lan, anh mới biết thì ra mình không được cứng rắn như mình tưởng. Những ngày đầu ở nơi đất khách quê người, ngôn ngữ không biết, người quen thuộc, thân thích cũng không, đêm đêm nhìn ra ngoài trời sáng như ban ngày, những bông tuyết trắng lả tả rơi, không gian mênh mang trắng, lạnh thấu xương... trong bối cảnh ấy có nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ vợ, nhớ con... âu cũng là chuyện người ta thường tình. Nào ngờ, một năm sau chợt nghe tiếng còi tàu, anh không thể cầm lòng nổi:

     

    Đêm khuya nghe tiếng còi tầu

     

    Muốn về với mẹ nào đâu dễ dàng

     

    Mẹ ơi từ dạo sang ngang

     

    Trong con trăm mối tơ vàng đó đây

     

    Làm sao để mẹ vui vầy

     

    Nói sao để mẹ tạm khuây tuổi già

     

    *

     

    *           *

     

    Sống dưới ánh điện huy hoàng của nước bạn, anh vẫn nhớ đến người vợ cưới dưới ánh trăng quê đồi:

     

    “Đi trong ánh điện huy hoàng

     

    Nôn nao lòng nhớ ánh trăng quê đồi…

     

    Thoắt đà trọn mấy năm rồi

     

    Suối rừng vẫn hát núi ngồi cạnh non

     

    Tình yêu sáng những nụ hôn

     

    Mùa xuân đám cưới, em còn nhớ chăng?”

     

    Ngày trở lại Vac-Sa-Va, đến Viện Sinh học thực nghiệm Nenxki nhập học xong là anh ra ngay phố tìm chợ, tìm nhà thuê. Nấu ăn lấy sẽ ít tốn kém. ở nhà thuê sẽ tốn ít tiền. Đành rằng ở đây tiêu chuẩn của anh còn cao hơn sinh viên nhiều nhưng ... Mẹ anh ở nhà cả đời chưa có manh áo chống rét nào cho ra tấm áo. Chiếc xe đạp của vợ anh đã cũ nát rồi chỉ đi được hơn trăm mét là tuột xích. Con anh thì... chưa một lần được âu yếm búp bê. Còn sách – thứ anh nghiện, thì ở đây nhiều vô kể nhưng... giá tiền sách cũng mắc. Với những nhu cầu thực tế đó thì đồng lương của anh chỉ là muối bỏ biển, không tằn tiện, chắt bóp sao được. Chợt anh nhìn thấy ở một cửa hàng bán đồ lưu niệm trên phố có bán bức tượng “Cha con người gánh cá” thế là kỷ niệm đưa anh về những tháng năm thơ ấu... Cha cậu lầm lũi gánh nồi cá kho đi trước, cậu lách chách đuổi theo sau. Đến, thị xã Thanh Hoá phố phường đang thiêm thiếp trong những cơn mê nặng nhọc. Mồ hôi túa ra như tắm. Cậu muốn nghỉ quá nhưng người cha vẫn lầm lũi bước đi. Cũng phải thôi, chợ cách nhà gần 30 cây số, không tranh thủ đi sẽ lỡ mất phiên chợ. Đến Rừng thông trời vừa mờ sáng. Sắp đến chợ rồi, cậu mím môi cố gánh đuổi theo cha. Bỗng... một đàn dê từ đâu toá ra, chúng xô vào nhau. Chúng xô vào nồi niêu, quang gánh. Những trách cá kho lộp bộp rơi, vỡ... Thế là lỗ thâm cả vào vốn. Hai bố con mặt buồn rười rượi. Nhưng biết bắt đền ai? Lại nhớ lần, hai cha con đang gánh cá đi đến giữa đồng thì... bỗng, từ đâu những chiếc máy bay ĐaKota ùa ra. Tiếng động cơ máy bay xé nát không gian. Hai cha con cắm đầu cắm cổ chạy. Hình như nó đuổi theo. Hai cha con quẳng vội gánh cá, lao xuống bờ ruộng nép nằm. mặt cắt không còn giọt máu. Quần đảo một lúc thấy không có gì, lũ Đakota ầm ầm lao đi. Cha con xếp vội quang gánh chạy về nhà. Đêm đã muộn, bụng đói cồn cào, mệt lã. Đến xã dưới thấy có nhà còn ánh đèn, cha con vào đổi trách cá lấy cơm ăn. Mò được về nhà thì trời rạng sáng... Hình bóng cha chập chờn trước mắt. Anh mua luôn bức tượng “Cha con người gánh cá”, và…

     

    “Ta đã đi tìm bấy lâu nay

     

    Bức tượng cha con gánh cá này

     

    Kỷ niệm một thời ta thơ ấu

     

    Đi theo cha chạy chợ tháng ngày

     

     

     

    “Nhớ ngày xưa thuở còn đi học

     

    Cha khuyên con công việc ruộng đồng

     

    Cùng chợ búa, bó rau, trách cá

     

    Phải chăm lo mọi việc cho thông

     

     

     

    Rồi một hôm cha gánh con gồng

     

    Cá kho tươi chạy chợ Rừng thông

     

    Hy vọng được người mua mau hết

     

    Sớm về nhà cho mẹ đỡ mong

     

    Nhưng không ngờ trời vừa hừng sáng

     

    Máy bay thù oanh tạc trên không

     

    Bán không được, cắm đầu chạy thẳng

     

    Đến Quán Voi, lòng dạ lao lung

     

     

     

    Rồi dọc đường trở về Cung Bịch

     

    Đi lang thang rao bán “Ai mua?”

     

    Mệt mỏi quá chán chường nặng chịch

     

    Con nhìn cha, ái ngại “già nua”

     

     

     

    Tối về khuya, ghé lại trong đêm

     

    Nhà đèn sáng , kéo lúa trên sân

     

    Đổi trách cá, lấy cơm đỡ đói

     

    Bố nhìn con, đôi mắt “quầng thâm”

     

    Về đến nhà, trời vừa hừng sáng

     

    Chân mỏi rời giấc ngủ mông lung

     

    Buồn làm sao cảnh bi ai ấy

     

    Hận quân thù, giầy xéo non sông”

     

    Ở Vac-sa-va sau những ngày lao động miệt mài trong phòng thí nghiệm, bỗng một ngày trên kính hiển vi điện tử anh đã tìm ra enzym fotfataza kiềm trên niêm mạc ruột của động vật thực nghiệm. Từ đó mở ra cho anh hướng nghiên cứu một số enzym khác trong chu trình chuyển hoá gluxit để vẽ lại bức tranh chuyển hoá toàn diện khi thay đổi môi trường của con vật, phát hiện này của anh được giáo sư hướng dẫn nước bạn hết sức hài lòng. Nhưng, một hôm, bỗng thấy bụng đau bỏng rát như có người đổ axit vào vết loét. Anh biết cơn đau dạ dày lại tái phát do làm việc quá căng thẳng. Nhưng công việc nghiên cứu không thể dừng. Anh nghiến răng chịu đau hy vọng vài ba ngày sau cơn đau sẽ tự đỡ. Nhưng rồi cố cũng không được. Cứ ăn vào là nôn... Buộc lòng anh phải vào bệnh viện ngoại khoa Vac sa va khám bệnh. Ở đây anh được chẩn đoán là: Tắc môn vị cần phẫu thuật gấp. Bệnh viện chọn một bác sĩ có tay nghề giỏi trực tiếp phẫu thuật cho anh. Việc này giúp anh yên tâm nằm lên bàn mổ? Anh miên man mơ về cái làng Đai nhỏ bé với những cánh đồng xơ xác, héo hon. Anh mơ về những người bạn thật thà chân chất, giờ chắc đã lên Bố cu, Mẹ hĩm hết rồi... ốm đau, bệnh tật ở nơi đất khách quê người sao mà buồn, mà tủi đến thế. Rạng sáng, đưa mắt nhìn ra ngoài trời thấy tuyết rơi lả tả ... Có tiếng hót lảnh lót của những chú chim chích choè nhỏ bé. Tiếng chim hót sưởi ấm lòng anh. Nó nhỏ thế mà vẫn hát yêu đời, còn anh cớ sao lại buồn. Một ý nghĩ vơ vẩn chợt đến. Hơn mười năm trước, bệnh huyết áp đã cản đường du học của anh. Giờ đây, công việc nghiên cứu đang trên đà thuận lợi lại phải vào nằm viện, Liệu đây có phải là số mệnh của mình không? Dẫu có thế nào mình cũng không buông xuôi trước số phận – Anh nghĩ thế là tự hạ quyết tâm cố ăn cho tốt để chóng bình phục. Quyết tâm này của anh gặp cơ thể đòi ăn trả bữa nên có lần đã gây nên cảnh:

     

    Cái hối ăn no thế mối kì

     

    Nhọc hơn cả một cuộc chạy thi

     

    Thở gấp, run chân, mồ hôi vã

     

    Mỗi bước ta đi có kẻ ghì

     

    Thoát khỏi tình trạng bụng “Thắt đáy lưng ong”, anh lao ngay vào công việc. Sau 3 năm miệt mài nghiên cứu tìm tòi và phát hiện “Bức tranh chuyển hoá toàn diện” đã hoàn thành. Ngày bảo vệ luận án DOKTOR anh rất xúc động trước sự quan tâm của sứ quán Việt Nam và bạn bè nghiên cứu sinh Việt Nam ở khắp Ba Lan. Anh vững tin bảo vệ luận án của mình trước một hội đồng khoa học đầy bản lĩnh và uy tín. Luận án DOKTOR của anh được hội đồng khoa học của bạn đánh giá là xuất sắc và cho anh chuyển tiếp làm ngay luận án DOKTOR HABILL. Đây là trường hợp hiếm hoi vì theo thông lệ ở bạn từ DOKTOR (Tiến sĩ) muốn chuyển tiếp lên làm DOKTOR HABILL (Tiến sĩ khoa học) cần phải có khoảng thời gian từ 10 – 15 năm. Thế nhưng ... có được làm chuyển tiếp hay không phải tuỳ thuộc vào quyết định ở nước nhà nên anh phải quay về nước xin ý kiến. Cuối năm 1975 anh về nước. Ý kiến đầu tiên của Bộ Y tế (Bộ chủ quản): cho đến lúc này Bộ mới chỉ cử cán bộ sang các nước thực tập, Bộ chưa cử ai đi làm Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học cả. Trường hợp của anh... Có lẽ anh phải trực tiếp gặp Bộ trưởng xin ý kiến. Gặp trực tiếp Bộ trưởng xin ý kiến? Làm sao để gặp được Bộ trưởng? Nhỡ gặp được mà Bộ trưởng không đồng ý thì sao? ... Những ý nghĩ này làm anh lo lắng và mệt mỏi. Nhưng rồi nhờ sự giúp đỡ của bè bạn, của Sứ quán Ba Lan anh đã được gặp Bộ trưởng. Bộ trưởng rất hiền mà sao anh rất run. Bộ trưởng yêu cầu anh trình bày lại luận án của mình cho Bộ trưởng và các cán bộ lãnh đạo của Vụ đào tạo – Vụ Khoa học và Vụ Tổ chức trực tiếp nghe. Điều này lại làm anh càng run, bởi anh lo: Hội đồng này không phải là Hội đồng khoa học! Nhưng ... Mọi người rất vui và đồng ý cho anh trở lại Ba Lan để hoàn thành luận án DOKTOR HABILL. Anh hớn hở về nhà, về trường báo tin vui thì... Anh bị dội một thùng nước lạnh, tê tái cả cõi lòng. Bí thư chi bộ Bộ môn Hoá Sinh ở Trường đại học Y khoa Hà Nội lúc bấy giờ không đồng ý. Ông viết bản kiến nghị phản đối gửi lên Bộ Đại học với những lý do “nghe ra chừng phải quá”: Anh Ban tuổi còn ít, cống hiến chưa nhiều, cần phải ở lại nước để phục vụ rồi có đi sau cũng chưa muộn. Để đảm bảo sự công bằng chúng tôi đề nghị Bộ cho anh Ban vào bộ đội đi phục vụ chiến trường. Sự phản đối này buộc tổ chức phải giải đáp được hai hệ lụy:

     

    - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này liệu Đái Duy Ban có “quá sướng” không? Và điều hệ luỵ 2 quan trọng hơn là: công trình khoa học mà anh đã làm và hướng nghiên cứu tiếp có thực sự cần thiết cho đất nước không ? Có là phương án khả thi không? Hệ lụy đầu đã nhanh chóng có câu trả lời: Gia đình và anh em thân thích của anh đã có đóng góp cho cách mạng tới ba liệt sĩ, ấy là chưa kể những người đang trực tiếp cầm súng đánh giặc ở chiến trường. Còn để giải đáp hệ luỵ 2, Bộ Đại học đã tập trung các cán bộ đầu ngành về Sinh hoá và Y học để nghe anh thuyết trình về luận án khoa học mà anh đã làm và các hướng nghiên cứu tiếp. Vào một ngày anh chẳng nhớ là nắng hay mưa chỉ nhớ là buổi thuyết trình của anh đã chinh phục được hàng trăm cử toạ, gồm các Nhà khoa học chuyên ngành đang rất có uy tín của cả nước và các Nhà lãnh đạo Bộ đầy kính trọng. Giáo sư Vi Huyền Trác khảng khái nói: “Mốc sách còn có thể được, chứ không được để mốc đầu. Tôi đề nghị Bộ tạo điều kiện càng sớm càng tốt cho anh Đái Duy Ban hoàn thành công trình nghiên cứu của mình”. Ý kiến của Giáo sư Vi Huyền Trác thể hiện được ý chí của mọi người nên vấn đề nhanh chóng được thông qua. Về đến nhà, bạn bè ùa đến chúc mừng anh. Có người thóc mách hỏi: ông với tay Bí thư chi bộ có vấn đề gì mâu thuẫn với nhau đến thế. Anh mủm mỉm cười, nhỏ nhẹ nói: Có mâu thuẫn gì đâu. Ông ấy thấy mình liên tục được đi nước ngoài học tập nên cho là sướng quá. Sướng quá thì thắc mắc, thế thôi.

     

    Cuối tháng 8 năm 1976, anh lên tàu sang Ba Lan. Đoàn lần này có hai người: Anh và anh Nguyễn Văn Đạo (người sau này là chuyên gia hàng đầu của đất nước ở một chuyên ngành thuộc lĩnh vực cơ học). Mọi thủ tục của chuyến xuất ngoại lần này tỏ ra suôn sẻ. Hành trình lần này đã trở nên quen thuộc, không còn những cảm xúc ngỡ ngàng như chuyến xuất ngoại đầu tiên, anh mơ màng nhớ đến chuyến về quê vừa rồi... Quê hương anh giờ đây đã có chút đổi thay. Chút xíu thôi. Bông lúa giờ đây đã trĩu hạt hơn. Củ khoai lang đã to hơn không còn loằng ngoằng như con giun đũa... Nhưng cuộc sống của dân làng vẫn còn lam lũ lắm. Cái đói vẫn còn rình rập đâu đây. Nhớ lại cuộc rượu với người anh họ – một thày lang làng nghe nói có biết về tử vi, tướng số. Giữa cuộc rượu bỗng thấy ông dừng nhấp; mắt lim dim, tay lần lần bấm đốt rồi chỉ sang anh phán ba điều:

     

    1. Anh vừa qua một cơn thiêu đốt nhưng may mắn gặp trận mưa rào nên không sao.

     

    2. Cuối tháng 8 này anh sẽ có tin vui và đi xa nhà

     

    3. Người mang phúc đến cho anh là một người đàn bà trạc 50 tuổi.

     

    Giờ đây ngồi lần giở lại các sự kiện đã xảy ra anh bỗng giật mình. Mình chẳng vừa trải qua một cơn thiêu đốt là gì. Có mấy ai đi học mà phải vất vả, khổ cực như mình không. Gặp hết người này xin ý kiến lại gặp người khác xin chỉ thị. Hết báo cáo công trình với người này, hội đồng này lại sang thuyết trình cho người khác, hội đồng khác nghe... Quả là một cơn thiêu đốt. Còn trận mưa rào... Anh nhớ đến buổi thuyết trình trước hàng trăm cử toạ... những đồng chí lãnh đạo Bộ đầy uy tín... những nhà khoa học đáng khâm phục... Kết luận của Hội nghị chính là trận mưa rào!!!

     

    Giờ đây chẳng là cuối tháng 8 hay sao. Hai điều trên thì đúng rồi còn điều 3. Người đàn bà trạc tuổi 50 mang phúc đến cho anh là ai nhỉ? Anh lần theo từng mối quan hệ nhưng ... nghĩ mãi không ra. Lẽ nào lại là bà giáo sư Stella Nimierko Viện phó phụ trách khoa học của Viện Nenxki? Có thể lắm chứ vì bà ấy cũng trạc tuổi 50. Về sau ông biết chính bà ấy đã ký quyết định cho anh trở lại làm tiếp công trình ở Viện, và còn cẩn thận cử người sang tận Sứ quán ta trao tờ quyết định. Nếu đúng thế thì thật là huyền bí. Khi nào thư thả mình sẽ đi sâu nghiên cứu vào lĩnh vực này xem sao...

     

    Tàu đến Bắc Kinh, đúng lúc ở đây đang xảy ra một trận động đất dữ dội. Đã nhìn thấy những cảnh hoang tàn. Đài Bắc Kinh liên tiếp thông báo phải đề phòng những cơn địa chấn tiếp theo ... Và, thế là anh và anh Nguyễn Văn Đạo đã có hai ngày sống theo kiểu chú bé Gavơrốt trên đường phố Bắc Kinh. Ngày thứ ba các anh lên tàu...

     

    Đến Ba Lan, anh cùng giáo sư KAVIAC nghiên cứu về ung thư thực nghiệm – Dòng tế bào lymphô ác tính trên chuột. Anh đi sâu vào lĩnh vực: Màng tế bào ung thư. Suốt bốn năm miệt mài nghiên cứu gắn mình với kính hiển vi điện tử, với môi trường hoá chất độc hại, với từng chồng từng chồng sách vở “anh đã công bố hàng chục bài báo nghiên cứu màng tế bào ung thư của mình bằng tiếng Anh trên các tạp chí khoa học chuyên ngành rất uy tín của Đức, Nhật, Ba Lan ... và, đặc biệt anh đã phát hiện ra phân tử Calmodulin chứa ion can xi đọng lại trên màng tế bào ung thư. Với phát hiện này, ngay lập tức anh đã nhận được hàng trăm bức thư của các nhà khoa học ở khắp nơi trên thế giới gửi đến xin tài liệu. Phát hiện này quan trọng vì ý nghĩa rất lớn của nó trong chẩn đoán sớm và điều trị ung thư. Trước sự kiện này, Giáo sư Aleksandra Pseliska người đỡ đầu công trình đề nghị để cuốn luận án dày 200 trang bằng tiếng Anh của anh cho Viện Lưu trữ; còn để bảo vệ luận án DOKTOR HABILL anh chỉ cần tóm tắt luận văn bằng một bài báo dài khoảng 10 trang, đem in trên báo Cosmot là đủ. Còn khoảng gần ba tháng nữa là đến ngày bảo vệ luận án, công việc ngày càng chồng chất... Bỗng một ngày thấy bụng quặn đau. Cơn đau ngày một nhiều. Bụng chướng hơi dầy lên. Rồi ăn vào là nôn, người gầy rộc xanh xao. Một khối u nổi lên và di chuyển quanh bụng. Là chuyên gia nghiên cứu rất sâu về căn bệnh ung thư, anh mơ hồ dự cảm một tai hoạ khủng khiếp sắp giáng xuống đời mình. Nhưng anh vẫn cố dấu không cho ai biết, vì nếu là u anh phải vào viện điều trị sẽ nhỡ việc bảo vệ luận án. Thua keo này biết đến bao giờ mới làm được keo tiếp. Anh dùng vải quấn quanh bụng rồi treo lên cổ, cố ép những cơn đau vào trong, mặc áo quần tươm tất đến cơ quan miệt mài làm việc... Cố bảo vệ luận án xong, rồi về nước chữa bệnh hoặc chết cũng được: anh thầm nhắc nhở mình. Ngày 29/11/1980, Luận án tiến sĩ khoa học được anh bảo vệ trước hàng trăm cặp kính cận, kính lão và một Hội đồng khoa học gồm 15 nhà khoa học chuyên ngành hàng đầu của Ba Lan. Luận án được một trăm phần trăm của Hội đồng khoa học đánh giá là xuất sắc và anh được Hội đồng khoa học Ba Lan đề nghị ở lại Ba Lan để nghiên cứu tiếp theo hướng đang mở ra. Bạn sẽ trả lương và đồng ý cho anh đón cả vợ con sang. Đây là lời mời mọc chân thành rất có lợi cho lợi ích cá nhân và khoa học. Nhưng anh dứt khoát từ chối với một lý do đơn giản : Nhà nước cho anh đi học để trở về phục vụ đất nước. Học xong anh có nghĩa vụ phải trở về... Bảo vệ luận án xong, khước từ lời mời của bạn xong, anh vào ngay phòng khám bệnh của Viện Sinh học Thực nghiệm xin thuốc giảm đau để chuẩn bị cho chuyến bay về nước ngay càng sớm càng tốt. Nhưng anh đã bị giữ lại .... Bởi vì ... long đong đến hơn chục bệnh viện .... cuối cùng anh được vào bệnh viện Mari Quy ri (Viện điều trị ung thư lớn nhất Ba Lan) chẩn đoán: ung thư trực tràng – u phối có nám mờ - đã di căn ... anh toát hết mồ hôi, run rẩy đi nhập viện. Bao công lao khổ luyện giờ đổ hết xuống sông xuống biển... Một nấm mồ vô chủ, lẻ loi, lạc lõng nơi đất khách quê người, giữa mênh mông tuyết lạnh. Anh nghĩ và cắm cúi viết di chúc bằng thơ để tạ lỗi với mẹ với vợ và các con:

     

    Với mẹ

     

    “Đường xa gánh nặng trời chiều.

     

    Cơn giông biển lớn mái chèo thuyền nan”.

     

    Ngẫm câu thơ của núi ngăn.

     

    Soi mình mình lại lòng càng buồn thay.

     

    Bao nhiêu hy vọng tràn đầy.

     

    Giờ thì đổ sạch vơi đầy ai hay.

     

    Quê người bao chặt tuyết mây.

     

    Trốn sao thoát khỏi lưới vây đất trời.

     

    Giữa vùng đất khách chơi vơi.

     

    Nay mai hồn xác gửi nơi chốn này.

     

    Suối vàng mẹ chỉ hay thay.

     

    Linh hồn con vẫn về đây quê nhà.

     

    Tuy rằng đất khách quá xa.

     

    Núi sông trùng điệp gấp ba bốn lần.

     

    Đi về cách trở tháng năm.

     

    Nhưng con của mẹ chẳng ngần ngại chi.

     

     

     

    Với vợ

     

    Em ơi anh chẳng giúp gì.

     

    Linh hồn anh vẫn sớm đi chiều về.

     

    Để cho gia quyến đề huề.

     

    Như ngày anh sống lời thề thủy chung.

     

    Với các con

     

    Hà, Nga chắc đã đợi mong.

     

    Mừng vui chóng gặp bố trong từng ngày.

     

    Tưởng rằng bố cũng cố xây.

     

    Cho hai con bố đẹp đầy tuổi thơ.

     

    Không ngờ bố sớm vật vờ.

     

    Để con bố phải chơ vơ hẩng lòng”.

     

    Thơ đã làm xong, anh yên tâm nằm xuống bàn mổ. Lòng tự nhủ: Tôi đi đây, vĩnh biệt mọi người...

     

    Anh từ từ mở mắt. Xung quanh là khoảng không bàng bạc trắng yên ắng quá. Anh khẽ rùng mình. Bỗng thấy một bác sĩ người Ba Lan đến đứng cạnh giường, nhẹ nhàng cầm tay anh rồi nói:

     

    - Chúc mừng anh! Mổ ra mới biết anh không bị ung thư. Làm việc quá sức anh bị dính ruột do lao màng bụng và lao phổi. Bệnh không còn nguy hiểm nữa. Anh yên tâm nghỉ ngơi, điều dưỡng...

     

    Cố gắng nghe được đến đây là anh lịm đi... Giai điệu của một bài hát quen thuộc vẳng lên... “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, Non nước mây trời lòng ta mê say” ... Anh thở phào nhẹ nhõm, nước mắt tự dưng ứa ra... Lại nghĩ vẩn vơ ... Có thế chứ! Cứ tưởng sinh nghề tử nghiệp! chuyên gia hàng đầu về bệnh ung thư lại chính là người trải qua tất các trạng thái buồn vui của người bệnh ung thư. Đó là trò đùa ác hiểm của tạo hoá hay cả định mệnh của người có sao chủ mệnh Thiên Y? Cha mẹ vẫn luôn răn dạy mình: ở hiền gặp lành, con ạ! Con cảm ơn cha mẹ.

     

    Đầu năm 1981, tân tiến sĩ vinh qui về nước bái tổ thì ... đất nước đang nằm trong cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, sản xuất đình đốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, tình hình chính trị trên thế giới diễn biến hết sức phức tạp nên tấm thân gầy của tân tiến sĩ cũng phải xẻ làm đôi. Bộ điều ông về Viện Khoa học Việt Nam, vì lúc này Viện khoa học Việt Nam đang nằm trong quá trình hình thành nên rất cần một cán bộ đầu ngành về Hoá sinh nhưng Trường Đại học Y Hà Nội muốn giữ ông lại. Bên tình bên lý – bên nào nặng hơn? Bên nào cũng nặng nên trong một thời gian không ngắn tân tiến sĩ vừa phải làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam vừa phải về trường giảng dạy. Nhưng rồi các đề tài nghiên cứu cấp Quốc Gia đã kéo ông về hẳn Viện Khoa học Việt Nam.

     

    Ở đây, con đường quan chức của ông diễn ra thật đơn giản: Năm 1984, ông đảm nhiệm chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm sinh lý – Hoá sinh người và động vật – Viện Khoa học Việt Nam. Năm 1989 , ông đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Hóa sinh ứng dụng – Viện Khoa học Việt Nam. Lần đầu tiên, đây là cơ sở nghiên cứu khoa học: “Hoá sinh ứng dụng” mới được hình thành và cũng là cơ sở đầu ngành của cả nước. Ông đặt nhiệm vụ, phải quản lí sao cho xứng đáng với tầm quan trọng của nó và để mở ra một viễn cảnh tương lai xây dựng Viện Hoá sinh Quốc gia bề thế. Vì vậy, ông đã chăm lo mọi việc:

     

    - Chuẩn bị và mua sắm những trang thiết bị hiện đại cho nghiên cứu như máy sắc ký lỏng cao áp, máy sắc ký tự động axitamin, máy cộng hưởng từ hạt nhân, máy đo đồng vị phóng xạ nhấp nháy lỏng, máy phân tích tự động các thành phần hoá sinh của cơ thể người- động vật…

     

    -Tổ chức lại các phòng nghiên cứu như Phòng nghiên cứu enzym, phòng nghiên cứu protein, phòng nghiên cứu hoá sinh miễn dịch và một số nhóm nghiên cứu chuyên sâu như nhóm nghiên cứu công nghệ gen, nhóm nghiên cứu tế bào…để phục vụ cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu mà Trung tâm đảm nhận với Nhà nước lúc bấy giờ như “Sử dụng kỹ thuật gen và kỹ thuật tế bào trong nghiên cứu sản xuất vaccine phòng chống các bệnh hiểm nghèo ở người và động vật” thuộc Chương trình công nghệ sinh học Quốc gia hay đề tài “Sử dụng các chất đồng vị phóng xạ trong nghiên cứu cơ chế tác động của các tác nhân kích thích sinh học lên chức năng dinh dưỡng và sinh sản của người và động vật” thuộc chương trình ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các lĩnh vực kinh tế quốc dân của Nhà nước.

     

    - Chăm lo xây dựng đội ngũ nghiên cứu khoa học hoá sinh trong Trung tâm vừa chuyên vừa hồng. Hàng tháng tổ chức báo cáo các chuyên đề khoa học, viết báo cáo kết quả thực hiện đề tài để cán bộ tập luyện quen dần cách thuyết trình, cách viết lách khoa học. Hàng tuần trực tiếp giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho từng cán bộ và theo dõi chỉ đạo sát sao trong việc thực hiện đề tài. Tổ chức học ngoại ngữ ngoài giờ cho cán bộ công nhân viên mỗi tuần 3 buổi. Chăm lo thêm đời sống vật chất ngày càng tăng tiến cho mọi người ngoài lương bổng định kỳ như thông qua các ứng dụng kết quả của đề tài, thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ nghiên cứu thành công…

     

    Trong thời kỳ làm Giám đốc Trung tâm ông đã tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người kể cả kỹ thuật viên sơ cấp cũng đều được đi ra nước ngoài vừa để học hỏi thêm vừa để giải quyết đời sống trong những năm tháng đất nước còn khó khăn.

     

    Đặc biệt ông rất quan tâm những người nối nghiệp ông trong thời gian ông quản lý. Trung tâm nghiên cứu gồm 30 người, nhưng ông đã đào tạo và cho đi đào tạo 5 cử nhân trở thành thạc sỹ khoa học, 4 cử nhân thành tiến sỹ khoa học và 4 kỹ thuật viên thành cử nhân. Đặc biệt 3 tiến sỹ hiện tại đã là phó giáo sư đang là lực lượng chủ trì và quản lý khoa học của Viện Công nghệ sinh học.

     

    Trong lãnh đạo chuyên môn, ngoài việc phân công nghiên cứu đề tài cụ thể cho cán bộ của mình, ông còn luôn luôn bồi dưỡng cho họ viết báo chí sách vở khoa học. Những bài báo và sách vở mà ông viết ông đều đề tên mọi người mặc dù có người tham gia không nhiều. Đó là cái tâm của ông để hàng năm họ cũng có những thành quả trong khoa học. Ông thương người như thể thương thân, nên được mọi người trong cơ quan yêu mến kính trọng.

     

    Trong vấn để bồi dưỡng nhân tài, phải nói rằng ông là người rất có tâm. Ông luôn luôn động viên mọi người học hành thêm để vươn lên trong chuyên môn và để có vị trí tiền đồ trong khoa học. Ông cũng rất công minh trong việc chọn lựa người thay thế mình khi ông đến tuổi về hưu. Có một bác sỹ thú y từ Trường đại học Nông nghiệp xin ông chuyển về cơ quan. Thấy có khả năng, ông đã nhận và bồi dưỡng liên tục cho đi học hết nước này đến nước khác và từ làm thực tập đến làm thạc sỹ và cuối cùng đạt được học vị tiến sỹ sau gần 10 năm. Trong khi đó, ở trong nước ông đã đến tuổi về hưu, nhưng vị trí thay ông, ông đã đề nghị với lãnh đạo cấp trên cho người đó về thay ông, mặc dù lúc ấy ở đơn vị cũng đã có một tiến sỹ khác chính do ông đào tạo. Người làm tiến sỹ ở nước ngoài về thay ông hiện cũng đã được ông tiếp tục bồi dưỡng và đã trở thành phó giáo sư năm 2006.

     

    Không những có ý thức bồi dưỡng nhân tài cho đất nước mà ông cũng rất quý trọng nhân tài mặc dù họ trẻ hơn mình, ông không hề có đố kị, trái lại rất trân trọng, đó là trường hợp với Phó giáo sư Tôn Thất Bách, một nhà phẫu thuật ngoại khoa có tiếng về tim mạch không may lại chết rất sớm vì bệnh tim mạch, lại là đại biểu quốc hội luôn luôn bênh vực cho quyền lợi của bệnh nhân nghèo. Cảm phục về tài đức của Phó giáo sư nên khi ông ta mất, ông đang ở Quảng Xương, vùng núi Chẹt, xúc động làm bài thơ “Về cõi vĩnh hằng” phổ nhạc và nhờ vợ là bà Lữ Thị Cẩm Vân (bạn học Y với ông Bách) và nhạc sĩ Hoàng Bình đến tận nhà phúng viếng. Bài hát đã được đưa lên vô tuyến truyền hình ngay ngày Phó giáo sư Bách mất. Thật là cảm động với lời lẽ chân thành và tình cảm.

     

    Về cõi vĩnh hằng

     

    Núi Chẹt – Sầm Sơn sáng nay trời tối

     

    Mây đen từng khối, ngùn ngụt kéo về

     

    Sấm chớp ầm ầm bủa vây khắp lối

     

    Tối sầm trời đất, mưa cả vùng quê

     

     

     

    Biển Đông Quảng hải - gào lên ảo não

     

    Khóc thương con người tần tảo của quê hương

     

    Anh - con người của Cha hiền Mẹ thảo

     

    Trọn một đời lam lũ - nặng yêu thương

     

     

     

    Vĩnh biệt Anh, nhà khoa học nhân dân

     

    Bao công trình cống hiến, nặng nghĩa ân

     

    Đang mang lại nhiều niềm vui hạnh phúc

     

    Mổ tim, mổ thận cứu bệnh nhân

     

     

     

    Nữa rồi, còn vĩnh biệt một người Anh

     

    Nhiều thơ giàu chất nhạc - đẹp tuổi xanh

     

    Luôn ca ngợi tình yêu, tình Tổ quốc

     

    Đẹp quê hương, lộng lẫy những bức tranh

     

     

     

    Nay Anh ra đi, xin cứ yên lòng

     

    Có cháu con Anh, nối nghiệp tổ tông

     

    Có chúng tôi đây kề vai sát cánh

     

    Đưa công trình Anh rạng rỡ non sông

     

    Luyến tiếc Anh, sớm về nơi chín suối

     

    Có cả Biển, Trời, Mây, Núi ... tiễn đưa Anh

     

    Sống cuộc đời đầy cứu nhân độ thế

     

    Cõi vĩnh hằng - lòng nhẹ thênh thênh

     

    Con đường quan chức của ông đơn giản bao nhiêu thì con đường khoa học và sáng tạo của ông lại phức tạp bấy nhiêu: Sáng tạo trên nhiều lĩnh vực: Khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, thực nghiệm, lâm sàng và cả những lĩnh vực tưởng chừng như các nhà khoa học tự nhiên bó tay như: Sáng tác thơ - văn - nhạc. Sự sáng tạo và những thành quả khoa học của những nhà khoa học như ông là vượt ra ngoài tầm quốc gia – mang tính chất quốc tế phục vụ cộng đồng các dân tộc. Chẳng thế mà ông đã được các Viện tiểu sử của Hoa Kỳ và thế giới phong tặng danh nhân của năm 2005 và nhà trí thức lớn của thế kỷ 21.

     

    Có thể nói sức sáng tạo của ông trong thời kỳ này bừng nở như hoa mùa xuân phong phú về giống loài, rực rỡ về màu sắc, ngây ngất về hương vị. Ta hãy khoan bàn đến việc một quan chức phải đổ bao mồ hôi công sức và trí tuệ để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực mình quản lí. Hoàn thành tốt được nhiệm vụ này cũng là một sự nghiệp đáng trân trọng.

     

    Trong thời gian này, ông đã đăng 350 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học có uy tín trong và ngoài nước bằng các tiếng Anh, Ba Lan, Việt Nam và tham gia các hội nghị báo cáo khoa học. Có một số công trình công bố, có đến hàng trăm thư từ gửi đến xin tài liệu.

     

    Ông đã tham gia giảng dạy Đại học 10 năm, ở Trường đại học Y Hà Nội. Và được mời giảng dạy bộ môn hoá sinh ở Trường Đại học Y Thái Bình, Trường đại học Y Hải Phòng, Trường đại học Y Sài Gòn, Trường đại học Y Huế v.v...

     

    Ông cũng đã tham gia đào tạo được 9 Tiến sỹ, 14 Thạc sỹ. Trước đây là Hiệu phó của cơ sở đào tạo sau đại học ngành Sinh học (đào tạo cao học) ở Viện Khoa học Việt Nam. Chủ nhiệm Bộ môn Hoá Sinh của cơ sở đào tạo cao học của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh học – nhiều năm liền. Chủ nhiệm bộ môn phương pháp luận nghiên cứu khoa học và phương pháp giảng dạy của cơ sở đào tạo cao học nói trên nhiều năm liền và hiện nay.

    Đã tham gia 150 hội đồng chấm luận án Tiến sỹ, Thạc sỹ liên quan đến sinh học, công nghệ sinh học của các cơ sở đào tạo trong toàn quốc với cương vị lúc Chủ tịch, lúc phản biện hay ủy viên.

    Ông đã tham gia trên 200 Hội đồng khoa học nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ và xem xét đề cương khoa học lúc chủ tịch, lúc phản biện, ủy viên. Ở cương vị nào cũng hoàn thành một cách có trách nhiệm các nhiệm vụ đề ra. Đó là các đề tài thuộc các Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Trường Đại học quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Dược Hà Nội, Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Huế, Trường Đại học tự nhiên Huế, Viện Hoá học, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hoá hợp chất thiên nhiên, Viện Khoa học hình sự, Viện Sinh học Nhiệt đới v.v...

    Ủy viên hội đồng khoa học ngành Công nghệ Sinh học và ủy viên Hội đồng khoa học của Viện Công nghệ Sinh học nhiều nhiệm kỳ.

    Ủy viên Hội đồng tư vấn chương trình nghiên cứu công nghệ sinh học và chương trình nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
     
    Ủy viên Hội đồng khoa học quốc tế – Liên đoàn Hoá sinh lâm sàng châu Á - Thái Bình Dương nhiều năm liền

    Ủy viên của Hội đồng khoa học quốc tế “Điều khiển sinh học” (Biocy bernetics) từ năm 1989 đến nay.

    Chủ tịch Hội hoá sinh Y học Việt Nam và Ủy viên Ban chấp hành Tổng hội Y học Việt Nam

    Phó chủ tịch Hội hoá sinh Việt Nam

    Tổng biên tập đặc san Hoá sinh Việt Nam

    Tổng biên tập nội san Hoá sinh Y học Việt Nam

    Chủ biên sách khoa học đại chúng phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nông nghiệp và phát triển nông thôn thuộc Liên hiệp các ngành khoa học và kỹ thuật Việt Nam

    Tham gia tổ chức các hội nghị Hoá sinh toàn quốc hàng năm

    Trưởng ban biên tập kỷ yếu các Hội nghị Hoá sinh Việt Nam nhiều kỳ.

    Tham gia báo cáo Khoa học hàng năm ở các hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế.

    Ông đã nhận xét và phản biện hàng chục sách giáo trình Đại học và sau Đại học của các Giáo sư, Phó giáo sư ở các trường Đại học và các Viện nghiên cứu trong nước và ngoài nước.

    Ông đã có đến hàng mấy chục buổi nói chuyện khoa học và y học cho các bác sĩ, dược sĩ của 14 cơ sở y tế các tỉnh thành khắp cả nước từ Quảng Ninh đến Mũi Cà Mau và hàng chục buổi nói chuyện khoa học với các trường đại học và thư viện TW Hà Nội và các địa phương.

    Chỉ liệt kê một số việc ông đã làm trong thời gian công tác ở Viện Khoa học Việt Nam ta mới thấy sự kiên trì, dẻo dai, sức làm việc, sức sáng tạo của con người là vô hạn. Thành công và sức sáng tạo ở những lĩnh vực mà ông trực tiếp “nhúng tay vào” đều có thể coi là những sự nghiệp đáng hài lòng.

    Hiện nay:

    Phát huy truyền thống đông y qua rất nhiều thế hệ, con cháu tiếp nối và có rất nhiều sản phẩm thuốc Đông Y chữa bệnh hiệu quả như các bệnh đường tiêu hóa, tiết niệu, tim mạch, hô hấp, cơ xương khớp, thần kinh.


    Đặc biệt, lần đầu tiên tại Việt Nam, sau thời gian nghiên cứu miệt mài trong nhiều năm, GS. VS. TSKH. Đái Duy Ban cùng với các nhà nghiên cứu uy tín và đội ngũ các nhà khoa học của Công Ty Daibio đã tìm ra giống Đông Trùng Hạ Thảo của Việt Nam và nhân nuôi được thành công giống Đông Trùng Hạ Thảo tại Việt Nam Cordyceps sinensis trên sâu nhộng xén tóc Isaria cerambycidae và phát triển thành Đông Trùng Hạ Thảo Daibio. Đông trùng hạ thảo Daibio hoàn toàn do rất nhiều nhà khoa học cùng với đội ngũ viện sỹ, giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, bác sỹ, dược sỹ, kỹ sư ở công ty Daibio có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu và sản xuất trong nước mà hoàn toàn không nhập khẩu bất cứ thứ gì ở nước ngoài về. Việc nghiên cứu Đông trùng hạ thảo Daibio đã nhận được giấy khen đạt thành tích trình bày triển lãm khoa học xuất sắc trong hội nghị sinh học phân tử và hóa sinh y học toàn quốc lần 2 của Bộ Y Tế, Bộ Khoa Học Công Nghệ Môi Trường và Trường Đại Học Y Khoa tại Hà Nội ngày 18 và 19 tháng 9 năm 2010. Ngày 26/5/2011, đài truyền hình kỹ thuật số VTC đã phát sóng việc lần đầu tiên ở Việt Nam phát hiện và nhân nuôi thành công Đông Trùng Hạ Thảo của GS. Ban cùng cộng sự ở công ty Daibio. Báo Gia Đình Xã Hội trực thuộc Bộ Y Tế và báo Đồ Uống Việt Nam đã đưa tin này vào số Xuân Nhâm Thìn năm 2012. Ngày 8/5/2012 và 20/5/2012, Đài truyền hình Hà Nội 1 cũng đã phát sóng trên 2 chuyên mục riêng biệt về Đông Trùng Hạ Thảo Daibio.
    http://giadinh.net.vn/20120111054139532p0c1000/mot-bieu-dong-trung-ha-thao-dip-le-tet-chieu-phu-phep-bot-thanh-than-duoc.htm
    Trang thông tin về Y Học của Bộ Y Tế Việt Nam đã giới thiệu về loài Đông Trùng Hạ Thảo được tìm thấy đầu tiên ở Việt Nam của GS. Ban và cộng sự ở công ty Daibio như sau:
    http://www.cimsi.org.vn/CIMSI.aspx?action=Detail&MenuChildID=210&Id=3497
    Sách chuyên đề về Đông Trùng Hạ Thảo đầu tiên của Việt Nam được nhà xuất bản Y học Bộ Y Tế do GS. Ban chủ biên ở công ty Daibio cùng cộng sự viết để phục vụ cho đông đảo các bác sĩ, thầy thuốc đông y, tây y, các sinh viên y dược, nhà khoa học có liên quan, bạn đọc quan tâm đông trùng hạ thảo để tìm hiểu, tham khảo nhằm phục vụ phòng chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho mọi người.
    http://www.xuatbanyhoc.vn/default.asp?act=chitiet&Cat_ID=71&News_ID=732&Chuyen_URL=http://www.xuatbanyhoc.vn/default.aspx

    Đông trùng hạ thảo có chứa 17 loại acid amin thiết yếu cho cơ thể và các thành phần cấu tạo của nucleotid do đó có tác dụng bồi bổ cơ thể. 

    Theo sách cổ ghi chép, Đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bổ, chữa thần kinh suy nhược, chữa ho, ho lao. Đông trùng hạ thảo có tác dụng bổ tinh khí, tráng dương, chữa sinh lý yếu, chữa đau lưng, bổ thận.

    Theo tài liệu cổ, Đông trùng hạ thảo là vị thuốc có vị ngọt tính ôn vào 2 kinh phế và hen suyễn. Có tác dụng ích phế, then, bổ tinh điền tủy, cầm máu, hóa đờm, dùng chữa hư lao sinh ho, ho ra máu, liệt dương, lưng gối đau mỏi, di tinh.

    Theo phân tích hiện đại, Đông trùng hạ thảo có chứa các nucleoside: Adenosin và các acid amin thiết yếu cho cơ thể như: Arginine, Alanin, Glutamin acid, Glycine, Isoleucin, Lysin, Tyrosin…… Nó tác dụng rất hiệu quả cho điều trị thần kinh, gan, thận, dạ dày, đại tràng, phổi, lách, tụy, tai, mũi, họng, mắt, cơ, xương, khớp, làn da và tóc.


    Theo Martindale (T 1323):

    Adenosin là một adenin nucleosid nội sinh trong cơ thể, nó là một thành phần của acid nucleic và rất nhiều coenzymes. Vì vậy nó tham gia vào rất nhiều quá trình sinh học trong cơ thể. Nó chống lại chứng loạn nhịp tim bằng cơ chế hoạt hóa adenosin A1 – Receptor và làm chậm sự dẫn truyền qua các nút. Nó không phù hợp dùng trong các trường hợp chống loạn nhịp tim thông thường. Nó có tác dụng giãn mạch ngoại biên và mạch vành bằng cơ chế hoạt hóa Receptor A2.

     

    Adenosin được dùng để phục hồi khả năng dẫn truyền của synap trong điều trị chứng mạch nhanh tâm thất có thể dẫn đến vỡ mạch bất ngờ, bao gồm hội chứng Wolff – Parkinson – White.

     
    X
    X

    Tin Nóng

    youttwitterfb-thich-daibio

    X

    CÔNG TY DAIBIO

    PHÒNG KHÁM CHẨN TRỊ Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐẠI GIA ĐÌNH DAIBIO

      info@daibio.com.vn                   www.daibio.com
      www.daibio.com.vn                   www.DongTrungHaThaoVietNam.com

    Số 38 Ngõ Thái Thịnh 1, quận Đống Đa, Hà Nội
    84 . 04 . 6275 4799

    Fax : 84 . 04 . 6275 4729
    LH Y Tế Trực Tiếp: 84 . 098 220 7805

    FacebookLinkedinTwitter