Hotline

Sinh địa

SINH ĐỊA HOÀNG (Radix Rehmanniae Glutinosae)
 
Sinh địa hoàng (Rhizoma Rhehmaniae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Địa hoàng (Rehmaniae glutino sa(Gaertn) Libosch (Digitalis glutinosa Gaertn) thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariacae).
 
Vị ngọt đắng tính hàn, qui kinh Tâm Can thận.
 
Thành phần chủ yếu: Theo các nhà nghiên cứu Nhật bản và Triều tiên, trong Sanh địa có các chất Manit (C6H8(OH)6), rehmanin là một glucozit, glucoza và ít caroten. Các tác giả Trung quốc cho rằng trong Sanh địa có ancaloit.
Tác dụng dược lý:
 
A.Theo Y học cổ truyền:
 
Sinh địa có tác dụng tư âm giáng hỏa, lương huyết sinh tân nhuận táo.
 
B.Theo kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
 
1.Chống viêm: Trên thực nghiệm, nước sắc Sinh địa có tác dụng chống viêm.
 
2.Tác dụng hạ đường huyết rõ rệt trên súc vật: thực nghiệm có đường huyết cao, cũng có thể làm cho đường huyết bình thường của thỏ hạ thấp,
 
3.Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống phóng xạ, chống nấm.
 
4.Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit nhưng không làm ức chế hoặc teo tuyến thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.
 
Ứng dụng lâm sàng:
 
1.Trị các bệnh cấp tính: sốt cao, khát nước, mồm khô, lưỡi đỏ thẫm để thanh nhiệt, lương huyết, tư âm, giáng hỏa 
2.Trị các bệnh sốt phát ban hoặc sốt xuất huyết
3.Trị bệnh ngoài da do huyết nhiệt: như chàm lở, nấm nhiễm trùng, ngứa urticaire
4.Trị bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục: bệnh mạn tính sốt kéo dài như lao, bệnh chất tạo keo, viêm đa khớp dạng thấp, ung thư . có hội chứng âm hư nội nhiệt (sốt âm ỉ, da khô, lòng bàn tay, bàn chân nóng, mạch tế sác
5.Trị bệnh tiểu đường

Chú ý lúc dùng thuốc:
Củ sinh địa mới đào lên là Sinh địa tươi, vùi vào cát ẩm có thể để dành 2 - 3 tháng. Tính chất Sinh địa và Sinh địa tươi cơ bản giống nhau nhưng sinh địa tươi hàn lương hơn nên sinh tân chỉ khát mạnh hơn nhưng tác dụng bổ âm kém hơn.
Địa hoàng là Sinh địa tươi rửa sạch sao khô, nếu qua bào chế nhiều lần chưng phơi sẽ thành Thục địa có tác dụng bổ âm huyết.
Không dùng Sinh địa trong các trường hợp: Tỳ hư thấp, tiêu chảy, bụng đầy, dương hư. Trường hợp dương hư ( hư hàn) dùng Thục địa không dùng Sinh địa, trường hợp có sốt dùng Sinh địa không dùng Thục địa. Nếu cần thanh nhiệt mà cơ thể hư thì Sinh - Thục địa cùng dùng như bài Bách hợp cổ kim thang ( y phương tập giải) gồm: Sinh thục địa hoàng, Bối mẫu, Bách hợp, Mạch môn, Huyền sâm, Đương qui, Bạch thược, Cam thảo, Cát cánh có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt nhuận phế hóa đàm. Bài Đương qui lục hoàng thang ( Lam thất bí tàng) gồm: Đương qui, Sinh Thục địa, Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Hoàng kỳ có tác dụng tư âm thanh nhiệt cố biểu chỉ hãn.
Lúc dùng Sinh địa, để làm giảm bớt tính nê trệ của thuốc , bớt ảnh hưởng đến tiêu hóa nên phối hợp với thuốc hành khí tiêu thực như Chỉ xác, Sa nhân, Mộc hương, Trần bì..


X