Công Ty Phòng Khám Đại Gia Đình DAIBIO

  • Trang chủ
  • Video
  • Thư viện Video

    Title: (0:00:00)
    You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

    Công ty Phòng khám DAIBIO trên mạng

  • Trang chủ
  • Ảnh
  • Ảnh sản phẩm viên hoàn cứng ĐTHT

    Đông trùng hạ thảo dạng viên
    Đông trùng hạ thảo dạng viên
    • Đông trùng hạ thảo dạng viên
  • Trang chủ
  • Truyền thống gia đình
  • Lương Y Hàn Lâm Viện Tu Soạn Lê Kinh Hạp
  • PDF Print E-mail

    Lương Y Hàn Lâm Viện Tu Soạn Lê Kinh Hạp

     

    Lê Kinh Hạp, tên khi nhỏ là Châu, húy Kinh Hạp, biểu tự Hoan Phú, biệt tự Hữu Tập, hiệu Xuân Đình Chủ Nhân, là con trai cả Ngài Hương Đình Lê Kinh Tế với bà vợ thứ 7 người họ Phạm quê ở xã Xuân Đài, huyện Thanh Quan, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định.

    Cụ sinh vào giờ Thân, ngày 1 tháng Chạp năm Kỷ Hợi (1839), tức năm thứ 19 đời Vua Minh Mạng.

    Từ bé Cụ đã tỏ ra là người thông minh dĩnh ngộ, kẻ thức giả thời đó đều đoán rằng Cụ sẽ là tay làm nên cơ nghiệp sau này. Lớn lên Cụ rất chăm chỉ học hành. Các bậc thầy như Tú tài Phạm Gia Hội ở Y Xuyên, Hoàng Giáp Phạm Huy ở Thâm Giang, Phó Bảng Phan Văn Nhã ở La Giang đều là những người có công kèm cặp, đào tạo Cụ.

    Năm Tự Đức thứ 14, lúc mới 22 tuổi, tại khoa thi Tân Dậu (1861), Cụ đỗ cữ nhân ở vị trí 14 (thuộc loại giỏi), từ đó Cụ càng ra sức dùi mài kinh sử, tỏ rõ chí đón hội rồng mây.

    Đến năm Tự Đức thứ 26 (1873), Cụ được cữ làm Ty Vụ Bộ Hình, nhưng khi sắp ra đi vua đã hạ chỉ chuyển Cụ sang giúp Đại Thần Đặng Vân Kiều (là quan khâm sai lúc đó) để đi hiểu dụ dân chúng chống lại bọn Ngụy nổi loạn gây rối vì biết Cụ am hiểu tình hình.

    Năm Tự Đức thứ 27 (1874) Cụ làm Bang Tá Huyện Vụ. Hàng trăm tên giặc đã đến đầu thú, chúng đều được Cụ khoan hồng và tạo điều kiện ổn định cuộc sống. Trong hạt ai cũng cảm phục lòng nhân đức của Cụ.

    Năm Tự Đức thứ 28 (1875) Cụ phụng mạng đi lùng bắt giặc Ngụy nguy hiểm tên là Điển. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ Cụ được khen thưởng và thăng lên hàm Ty Vụ.

    Cụ là người rất giỏi y lý, nên năm Tự Đức thứ 29 (1876) Cụ được cữ về Kinh tham dự kỳ thi tuyển chọn người thầy thuốc giỏi. Sau đó Cụ được bổ nhiệm làm giáo sư ở phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Từ đó Cụ bắt tay vào làm Văn chỉ, chấn chỉnh nền nếp học tập rất phù hợp với mong mỏi của sĩ phu trong vùng.

    Năm Tự Đức thứ 31 (1878), Cụ được thăng lên chức Hàn Lâm Viện Tu Soạn (chịu trách nhiệm viết sách ở Viện Hàn Lâm). Mùa đông năm đó Cụ được điều đi làm Thông Phán tỉnh Thanh Hóa, nhưng vì nổi tiếng liêm khiết, mẫn cán, đặc biệt trong công việc khuyến chẩn (1879 niên hiệu Tự Đức thứ 32), nên được các tầng lớp sĩ phu ở phủ Thiệu Hóa nguyên lưu. Nguyện vọng đó được Vua phê chuẩn, Cụ tiếp tục ở lại. Cụ được giao công việc quản lý cả phủ, được dân chúng trong phủ cảm phục.

    Năm Tự Đức thứ 33 (1880), Cụ dự thi ngành giáo dục , được xếp hạng ưu, được thưởng 3 tháng lương. Bấy giờ, các quan trong triều thấy Cụ nổi tiếng trong tầng lớp giáo giới, có tài nên đã tiến cữ lên Vua và được Vua phê chuẩn cho tiếp tục ở ngành giáo dục. Đến năm Tự Đức thứ 36 (1883) Cụ được thăng hàm Hàn Lâm Viện Thị Giảng, bổ nhiệm làm Đốc học tỉnh Quảng Trị, rồi án Sát Sứ tỉnh Hà Tĩnh. Khi xa giá vừa đến nhiệm sở, Cụ liền cho tra cứu các án tiết của bọn can tội lừa đảo, điêu trác. Cụ đã căn cứ vào luật mà giảm án, xá tội cho hơn 20 phạm nhân. Những trường hợp tạm giữ, chưa xét, các trường hợp oan sai ... đều được xem xét lại.

    Năm đầu niên hiệu Kiến Phúc (1884), Cụ được thăng chức làm án Sát Sứ tỉnh Quảng Nam. Cụ đã nhận chiếu chỉ, nhưng lúc bấy giờ thế sự rối ren, thực dân Pháp từng bước lấn tới xâm chiếm nước ta, mà triều đình thì nhu nhược, chính sự hỗn loạn. Khi vào đến Kinh thành cụ lấy cớ mẹ già bị bệnh xin được nghỉ về quê chăm mẹ. Vua chấp nhận và cho hưởng nguyên lương, nguyên hàm, về tham gia công việc tỉnh Hà Tĩnh, kiêm cả việc của Nha phòng vệ An ninh miền núi ở vùng này để Cụ được ở gần gũi phụng dưỡng mẹ già theo nguyện vọng.

    Năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) Cụ vâng lệnh Vua đi hiểu dụ, xử lý tình hình giáo dân ở hai hạt Hương La. Ba năm sau Cụ lại nhận nhiệm vụ đi nắm tình hình biên cương vùng thượng du ba tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh và Nghệ An.

    Năm đầu niên hiệu Thành Thái (1889), Cụ lại trở về kinh thành Huế tham gia vào Hội Đồng Giám Khảo kỳ thi Hội, sau đó làm việc ở Biên Tu Tiết thuộc Sử Quán (tức Vụ Biên Tu Lịch Sử Quốc Gia). ở đây Cụ được Vua ban thưởng 5 bộ quần áo: áo đoạn màu đồng, quần lụa cao cấp màu đỏ có hoa và bạc trắng ngũ phúc.

    Năm Thành Thái thứ 2 (1890) Cụ được thăng chức Hàn Lâm Viện Thị Độc và kiêm công việc ở Viện Sử. Sau Cụ lên làm Ngự Sử lo cả việc chưởng ấn, quản lý các ấn tín của Bộ Hình và Bộ Công, chẳng bao lâu Cụ lại được điều đi lãnh chức Tham Biện Tiểu Phủ Sứ ở Hà Tĩnh. Sau ba năm ở đó (1894) Cụ xin nghỉ với lý do dưỡng bệnh, mặc dù lúc đó mới 55 tuổi, Vua phê chuẩn cho Cụ được nghỉ ở quê chờ điều động công việc khác trong vòng 10 năm.

    Đến năm 60 tuổi (1898) Cụ xin hưu trí, Vua thuận và thăng Cụ lên hàm Triều Liệt Đại Phu, Quang Lộc Tự Thiếu Khanh Hưu Dưỡng

    Ở quê nhà, Cụ mở lớp dạy học và nghiên cứu chữa bệnh cho dân. Cụ đã từng được mời về Kinh đô và chữa được nhiều bệnh gọi là nan y mà các Ngự y hồi đó bó tay. Cụ là "thần y" lừng danh miền Trung từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đến Trị Thiên Huế.

    Cụ là người khảng khái độ lượng, lấy điều hoàn thành hết chức trách làm trọng, luôn giữ thanh bạch, liêm khiết, không có những chuyện riêng tư mờ ám, không so đo cầu lợi, luôn giữ đạo thủy chung, trọn tình, đạt lý với mọi người, không hề ăn ở hai lòng. Trong vòng 10 năm cuối khi làm quan, khi không nhưng Cụ không hề gì, coi việc làm quan hay trí sĩ là việc rất bình thường.

    Cụ là người chí hiếu. Ngay khi còn bé phải chịu tang Cụ Cố (tức thân mẫu của Cụ). Cụ đã nằm gai nếm mật, chịu sống đúng những hình thức con chịu tang cha mẹ của người xưa, nên thân hình tiều tụy không khác gì người đã trưởng thành. Khi cha mẹ còn sống, Cụ phụng dưỡng đầy đủ. Bấy giờ có quan Niết Sứ Nam Châu gửi lệnh mời Cụ ra làm việc, Cụ đã dâng sớ xin ở lại để phụng dưỡng Mẹ già. Trong bia đá đã ghi: "Ôi! Đó chính là tấm lòng của Cổ nhân "dẫu lấy chức Tam Công cũng không chịu đổi lấy một ngày phụng dưỡng cha mẹ" vậy". Còn đối với anh em, bè bạn Cụ hết lòng thương yêu, thật lòng khuyên bảo điều hơn, lẽ phải, thể hiện đúng tình nghĩa thủy chung.

    Năm 1899, trong dịp Triều Đình mở đại tiệc mừng Thái Thái Hoàng Thái Hậu Từ Dũ thượng thọ 90 tuổi, Vua có qui định: Tất cả các Ông, Bà, cha, Mẹ đã tạ thế của các bậc Đại Thần đều được ban danh hiệu, hương đèn để tế lễ.

    Cụ đã căn cứ vào đó và tâu trình nên được Vua xét: Cụ Ông, nguyên là Đại thần hàm Chánh Tứ Phẩm nay được truy tặng hàm Hàn Lâm Viện Thị Độc và Cụ Bà, trước đã được phong tước Tòng Ngũ Phẩm Nghi Nhân, nay được truy tặng hàm Chánh Ngũ Phẩm Nghi Nhân (vì thế thường gọi Cụ Tặng). Ngày chỉ Vua ban xuống, Cụ đã đốt hương cáo lên Tôn miếu, hóa Vàng mã và khắc bia đá để ghi nhớ và có thơ rằng:

    "Mưa móc làm tươi vẻ bá tòng

    Khắc bia xây mộ sáng gương chung

    Cầu cho con cháu theo gương trước

    Nào giám gì nhiều những ước mong"

    Đối với Tổ Tiên, các bậc Tiền Bối, cũng như với quê hương Cụ đã dày công đóng góp: Viết gia phả, lập Hương ước, điều lệ của xã, lập miếu thờ như: miếu Phúc Thần Tiên Đạt, miếu Tướng Công Đô Đài, xây nhà thờ Lục Đẳng (thờ Tổ Thanh Hóa), nhà thờ họ ngoại, đúc chuông nhà thờ họ Lê, làm khánh đá ở Đền Thần Thánh Chỉ trong giáp, ở Văn chỉ huyện Hương Sơn, ở nhà thờ họ Lê, xây dựng đập nước như đập Mã để giúp dân lấy nước tưới ruộng, xây cầu như Cầu Cống (bằng đá thanh) v.v.

    Cụ đọc hầu hết các loại sách, nhưng tâm đắc nhất là sách y dược, loại sách viết về thuốc hàn. Nhiều người bệnh đã được cứu sống nhờ loại thuốc này. Vì thế quan Tham Tri Bộ Binh là Ngô Công Cung đã viết tặng Cụ một đôi câu đối nói về tư cách và đạo đức của Cụ như sau:

    "Thuốc đắng cứu về nghìn mạng sống

    Quan to đổi lấy Thất Từ Thư" (Thất từ thư là sách thuốc)

    Đại ý câu đối là ca tụng Cụ dám quên chuyện làm quan to, dám đổi vinh hoa phú quí chốn quan trường để lấy một cuốn sách thuốc. Ngày nay trong cuốn "Sơ khảo lịch sử y học cổ truyền" do Viện y học cổ truyền Việt Nam biên soạn, nhà xuất bản y học ấn hành tháng 9-1995 đã đánh giá tập sách thuốc do Cụ để lại như sau: "Ông Lê Kinh Hạp người ở Hương Sơn, Hà Tĩnh đã để lại tập Xuân Đình Y án kinh trị chư chứng với nhiều kinh nghiệm phù hợp với bệnh cảnh do thời tiết khô nóng của Bắc Trung Bộ bị ảnh hưởng của gió Tây mùa hè gây nên. Tác giả đã chế nhiều phương thuốc hiệu nghiệm trị bệnh thời khí ôn dịch, coi trọng việc dùng huyền sâm, sinh địa, kim ngân hoa, cát căn chí tử. Ông đã ghi lại y án chữa bệnh phong thấp, ông có tâm đắc về sử dụng vị hy thiêm" (trang 51).

    Cụ viết văn không chú trọng đến nghệ thuật điêu xảo mà cốt ở khí tiết và phẩm chất. Các tác phẩm của Cụ đã được đóng thành tập. Tập "Xuân đình gia huấn ca" là tập văn cuối đời của Cụ viết để dạy con cháu về đạo đức, tư cách làm người con, người dân, cách đối nhân xử thế ở đời . Tập sách được viết cách đây hơn 1 thế kỷ nhưng nay vẫn còn giá trị giáo dục, con cháu nội ngoại trong dòng họ Lê nhiều người thuộc lòng.

    Giờ Dần ngày 3 tháng 11 năm Thành Thái thứ 12 (1900), Cụ đã từ giã cõi đời mà không bị ốm đau gì cả, hưởng thọ 62 tuổi. Thể theo di chúc, Mộ của Cụ được an táng bên phải mộ bà Nghi Nhân (thân mẫu của Cụ) tại thôn Y Cầu, giáp Liên Trì (Sơn An). Hiện nay mộ của Cụ đã được chuyển lên rú Tháp cùng với mộ Cụ Bà, cạnh mộ Can án Bà (tức cụ Tặng - thân mẫu của Cụ)

    Tại nhà thờ họ Lê còn có bia đá ghi công trạng của Cụ do cháu nội của Cụ là Phó bảng Lê Kinh Thiển soạn lời (đã có trong cuốn tư liệu lịch sử dòng họ Lê do giáo sư Lê Kinh Duệ sưu tầm và biên soạn).

    Bà Chánh thất (vợ cả) là Cung Nhân Lê Thị Tiểu Cơ, quê ở thôn Trung Lễ, xã Cổ Lộ, huyện La Sơn (nay là Lạc Thiện), phủ Đức Thọ (bà là con gái út của quan án Sát Sứ Lê Văn Vĩ). Khi về làm vợ Cụ Hạp bà mới ở tuổi cập kê ( tuổi 15). Bà là người thông minh, hiếu thảo, siêng năng, tằn tiện, không ai dám chê trách điều gì. Hơn 50 năm làm nội tướng đảm đang việc nhà, bà đã góp phần giúp Cụ làm nên sự nghiệp. Bà mất vào giờ Ngọ ngày 20 tháng 4 năm Duy Tân thứ 4 (1910), hưởng thọ 70 tuổi, mộ đặt ở xứ Nhà Thánh, giáp Xuân Lưu, nay chuyển lên rú Tháp (Sơn An), cạnh mộ Cụ Hạp.

    Ngoài ra Cụ còn có 4 bà vợ thứ thất. Năm bà đã có với Cụ 6 con trai và 6 con gái

     

    Truyền Thống Y Học Đại Gia Đình DAIBIO

    X
    X

    Tin Nóng

    youttwitterfb-thich-daibio

    X

    CÔNG TY DAIBIO

    PHÒNG KHÁM CHẨN TRỊ Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐẠI GIA ĐÌNH DAIBIO

      info@daibio.com.vn                   www.daibio.com
      www.daibio.com.vn                   www.DongTrungHaThaoVietNam.com

    Số 38 Ngõ Thái Thịnh 1, quận Đống Đa, Hà Nội
    84 . 04 . 6275 4799

    Fax : 84 . 04 . 6275 4729
    LH Y Tế Trực Tiếp: 84 . 098 220 7805

    FacebookLinkedinTwitter