Hotline

CẤU TRÚC, CƠ CHẾ, CƠ SỞ PHÂN TỬ ĐỂ CHẨN ĐOÁN HIV/AIDS

Trong các hướng điều trị HIV/AIDS thì hướng điều trị đặc hiệu là quan trọng nhất, trực tiếp tấn công vào virus.
I. CẤU TRÚC PHÂN TỬ CỦA VIRUS HIV
1. HIV thuộc họ retrovirus ở người
Retrovirus ở người là loại virus ARN và enzym phiên mã ngược.
Retrovirus ở người có 3 loại:
- Oncovirus: sống vĩnh cửu trong tế bào HTLV1, HTLV2
- Lentivirus: gây độc tế bào chậm HIV1, HIV2
- Spamavirus: không gây độc
2. Cấu trúc phân tử của HIV
HIV là những hạt nhỏ có kích thước từ 90-120 nm; có 3 phần: lõi, vỏ trong và vỏ ngoài. ở vỏ ngoài có gai.
Lõi: ở phần trung tâm của virus HIV gồm bộ máy di truyền và các enzym.
Bộ máy di truyền của HIV đó là 2 phân tử RNA tách nhau chứa 3 gen cấu trúc và 3 gen điều hoà. Ba gen cấu trúc có tên là:
Gen Gag (Group specific antigen) là gen mã hoá các kháng nguyên đặc hiệu nhóm virus.
Gen Pol (polymerase) là gen mã hoá cho các enzym như: enzym phiên mã ngược RT (Reverse Transcriptase), enzym protease và endonuclease (hay còn gọi là enzym integrase).
Gen Env (Envelop) là gen mã hoá các glycoprotein lớp vỏ ngoài của HIV. Còn 3 gen điều hoà của HIV gồm:
Gen Tat làm tăng quá trình nhân lên của virus
Gen Nef làm chậm quá trình nhân lên của virus
Gen Rev điều chỉnh các quá trình nhân lên qua gen Tat và Nef.
Các phân tử enzym
Enzym RT đảm nhiệm việc sao mã bộ gen virus thành ADN bổ sung
Enzym protease có vai trò tách các protein được mã hoá bởi gen Gag Pol thành các phân tử hoạt động.
Hiện nay các thuốc tân dược hiện đại là tập trung tác động trên 2 loại enzym này để diệt virus HIV là chính.
Integrase là enzym có tác dụng gắn kết ADN của virus vào ADN của tế bào vật chủ.
ỏ trong của virus (vỏ capsit)
Vỏ trong gồm có 2 lớp:
Lớp ngoài được cấu tạo bởi các protein có trọng lượng phân tử 17KD (p17) hay 18KD (p18).
Lớp trong được cấu tạo bởi các protein có trọng lượng phân tử 24KD (p24). Đây là kháng nguyên quan trọng để chẩn đoán HIV/AIDS.
Vỏ ngoài cùng của HIV
Đây là màng lipit kép có kháng nguyên chéo với màng nguyên sinh chất tế bào.
Gắn lên trên màng này là cấu trúc phân tử glycoprotein có trọng lượng phân tử 160 kilodalton (p160) gồm 2 phần:
- Glycoprotein ngoài màng có trọng lượng phân tử 120 kilodalton (gp120). Đây là kháng nguyên luôn luôn biến đổi nên bộ máy miễn dịch có thể khó nhận diện, do đó cũng là lý do cho đến nay nhân loại chưa có được 1 vacxin chống HIV hữu hiệu.
- Glycoprotein xuyên màng có trọng lượng phân tử 41 kilodalton (g41)
II. CƠ CHẾ PHÂN TỬ GÂY BỆNH CỦA HIV
Để hiểu được cơ chế gây bệnh của virus HIV ta tìm hiểu chu trình sống và phát triển của nó trong tế bào. Quá trình này gồm 6 bước như sau:
Bước 1: HIV tiếp cận với tế bào miễn dịch tức là tế bào Lympho T nhờ qua thụ thể CD4 và đồng thụ thể CCR5 hay CXCR4 ở trên bề mặt tế bào.
Bước 2: HIV vào được trong tế bào chuyển ARN của nó thành 2 sợi ADN nhờ enzym phiên mã ngược RT.
Bước 3: ADN của virus sát nhập vào ADN của tế bào miễn dịch nhờ enzym integrase.
Bước 4: ADN của virus nhân lên mạnh mẽ nhờ sử dụng được bộ máy di truyền của tế bào miễn dịch.
Bước 5: Các enzym protease cắt các protein của virus để tạo thành virus mới.
Bước 6: Các virus chui ra khỏi tế bào đi tấn công các tế bào miễn dịch khác. Và cứ như thế làm phá hủy các tế bào miễn dịch TCD4- gây cơ thể bị suy giảm miễn dịch tạo điều kiện cho các bệnh nhiễm trùng khác (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm) gây bệnh, kể cả ung thư phát triển.
III. CƠ SỞ PHÂN TỬ CỦA CHẨN ĐOÁN HIV/AIDS
Có 2 phương pháp
1. Phương pháp chẩn đoán gián tiếp
Trắc nghiệm phát hiện (thử máu) để tìm kháng thể kháng HIV bằng:
- ELISA
- WESTERN BLOT (để xácđịnh)
- Phản ứng ELISA
Kết quả:      Độ nhậy rất cao
                   Đặc hiệu kém
Tất cả các kết quả (+) phải được kiểm lại bằng 1 trắc nghiệm thứ 2: WESTERN BLOT.
Thời gian chuyển dương: 3 tháng
Phản ứng WESTERN BLOT:
Được thực hiện khi test ELISA dương tính (+)
Làm lần 2.
Có khả năng phát hiện các kháng thể kháng với các protein cấu trúc và các protein không cấu trúc của HIV.
Trắc nghiệm (+) khi có 3 kháng thể trong đó có 2 kháng thể có vỏ bọc.
Rất đặc hiệu: đây là test dễ xác định – là bị nhiễm HIV vĩnh viễn.
2. Phương pháp chẩn đoán trực tiếp: Gồm
Đo lượng siêu vi trong các huyết thanh
- Tìm kháng nguyên p24 trong huyết thanh
- Cấy máu
- Đo ARN của HIV
- Cấy tìm siêu vi trong tế bào
- Định lượng p24
- Định lượng ARN của HIV
Đếm số lượng của HIV trong huyết thanh có lợi là:
- Phản ánh mức độ sinh sản của HIV trong cơ thể.
- Tiên lượng được diễn biến của bệnh
Số lượng siêu vi – nói lên sự tàn phá hệ thống miễn dịch nhanh hay chậm. Số lượng TCD4 nói lên mức độ bị tàn phá của hệ thống miễn dịch nhiều hay ít.

X